Skip to main content

Phẩm III. Đa Văn (多聞品)

多聞品者,亦勸聞學,積聞成聖,自致正覺。

Đa văn phẩm giả, diệc khuyến văn học, tích văn thành thánh, tự trí chính giác.

Nội dung chính và dụng ý của Phẩm Đa Văn là sách tấn chúng chúng ta nỗ lực tu học, tham cứu và thông hiểu rộng rãi các pháp môn, lấy sở học làm gốc chuyển hóa nội tâm, giải thoát khỏi tự ngã và tăng trưởng trí tuệ.

Phẩm này có 19 kệ. Mình đã tham khảo phần dịch và giải thích bằng Bạch Thoại của website http://www.mbh.idv.tw/index.php?mod=articles&ID=21 để dịch phẩm này.

Nghĩa

Kinh văn và phiên âm

1. Tinh cần tầm cầu chính pháp thì sức tu hành thêm dồi dào và kiên cường, hằng phụng hành chính pháp thì đức hạnh của hành giả kiên cố như tường sắt thành đồng, thành tựu được phép tu hành tinh tiến như thế thì không ác ma nào có thể bức ngã, nhờ vậy mà hành giả mau thành tựu đức hạnh và trí tuệ.

2. Tinh cần tầm cầu chính pháp thì ý chí và tín niệm mau sáng tỏ, ý chí và tín niệm sáng tỏ thì trí tuệ thâm nhập chân nghĩa của chính pháp thêm sâu, liễu giải được chân nghĩa của chính pháp thì có thể an nhiên tự tại tu hành chính pháp.

3. Tinh cần tầm cầu chính pháp thì hành giả có thể vượt thoát lưới phiền não và ưu lự, có thể tiến nhập vào thiền duyệt, có thể an nhiên tự tại truyền đạt chân nghĩa chính pháp cho người khác; tinh cần tu học như thế thì có thể thành tựu trí tuệ, đạt tới cảnh giới Niết-bàn viên mãn.

4. Tinh cần tầm cầu chính pháp thì sẽ hiểu rõ những giới luật trong pháp nghĩa, hành trì những giới luật ấy sẽ giúp cho hành giả gỡ được những nghi hoặc và si mê trói buộc nội tâm, thậm chí còn xoay tà thành chính, rũ bỏ và xa lìa những hủ bại của ác pháp, tà pháp, nhờ tinh cần tầm cầu chính pháp như thế mà thành tựu giác ngộ viên mãn.

5. Truy cầu chân lí thì quan trọng là phải có minh sư, chỉ có vị đạo sư chân chính có thật chứng mới khai giải cho mình được những nghi hoặc của cuộc đời, khiến cho sự nghiệp tu hành của mình được sáng suốt, hiệp trợ cho mình vun bồi trí tuệ thanh tịnh, có sức hằng phụng trì chánh pháp và thành tựu trí tuệ thậm thâm viên mãn.

6. Có thể thu nhiếp thân tâm theo chính pháp mọi lúc, như thế mới có thể mau hiểu rõ pháp nghĩa, có hiễu rõ pháp nghĩa rồi thì ý chí phụng trì chánh pháp mới không bị suy xuyễn, người nào luôn phụng trì chánh pháp và có lòng khiêm hư thụ giáo và tùy thuận chánh pháp, sẽ mau vượt thoát mọi ách nạn mà được tịch tĩnh và yên ổn.

7. Học được một ít giáo pháp và tri thức rồi cậy cho như vậy là đủ, không tiếp tục tinh cần cầu học, và sinh kiêu ngạo, kì thị sở học và tri thức của người khác, hành vi ngu muội ấy ví như người mù cầm đuốc, ánh sáng chỉ chiếu soi cho người khác còn mình thì giam hãm trong tối tăm và hư rỗng.

8. Phàm muốn truy cầu tước vị, tài lộc, địa vị tôn quý, phúc báo lớn lao ở cõi người và cõi trời, nếu muốn thành tựu trí tuệ và biện tài siêu bạt thế gian thì không có gì hơn là tinh cần cầu học.

9. Các bậc đế vương kính trọng người bác học hiểu rộng, tìm tới họ để cố vấn sự nghiệp, chư thiên ở cõi trời cũng tôn kính những bậc bác học đa văn, thỉnh cầu họ truyền dạy cho phương pháp tu hành, vì vậy mà đa văn bác học chính là kho báu trân quý nhất ở thế gian, họ chính là nguồn sức mạnh sung túc nhất ở thế gian.

10. Đa văn bác học được trí giả khâm phục và tôn kính, người truy cầu chân lí, những bậc đế vương, thậm chí thiên thần ở cõi trời cũng hân hoan lễ kính người đa văn bác học.

11. Cho dù là tiên nhân có sức biến hóa thần thông cũng luôn hết lòng lễ kính người bác học đa văn, những người quyền quý hiển đạt, những người dư dật của cải càng nên tôn kính người bác học đa văn. Vì quyền thế và tài phú rốt cục phải tiêu tán thành mây khói, trí tuệ mới là kho tàng vĩnh hằng nhất, cho nên người bác học đa văn xứng đáng lễ kính và suy tôn hơn hết.

12. Sùng kính thần mặt trời là vì biết ơn mặt trời chiếu ánh sáng nuôi dưỡng vạn vật, phụng dưỡng cha mẹ là vì tạ ân dưỡng dục nhọc nhằn của song thân, trung hiếu với quân vương là vì quân vương dùng quyền uy bảo vệ quốc gia và che chở nhân dân, còn kính lễ người bác học đa văn là để cảm tạ người ấy đã truyền đạt và giảng giải chân nghĩa chánh pháp.

13. Người ta vì mạng sống khang kiện mà gần gũi người tinh thông y thuật, vì cầu vinh hoa mà phục tùng nơi giàu có thế lực, còn chính pháp thì hiển minh ở trí tuệ của người bác học đa văn, theo được giáo pháp của người bác học đa văn để học cách giải thoát phiền não thì càng khiến cho tâm linh mình đời đời thấm nhuần trí tuệ quang minh.

14. Bạn đồng hành có chân thành không, coi lúc mưu lợi có cùng chia sẻ lợi ích không thì sẽ biết; bạn bè qua lại có thành thật không, coi lúc nguy cấp có cùng chia sẻ hoạn nạn không sẽ biết, vợ chồng có hạnh phúc không, coi lúc sống với nhau có nâng đỡ, an ủi và tha thứ nhau không thì sẽ biết, còn muốn biết người ta có trí tuệ sung mãn không, đợi lúc nghe người ấy nói, coi họ có túc học không, có sức truyền đạt chân lí không thì sẽ biết.

15. Tinh cần cầu học chân chính thì không những lợi ích cho mình, vợ con, thân thích, bạn bè, mà đời sau cũng được nhiều phước báu; người nào tu học chân chính qua nhiều đời sẽ thành một trí giả siêu việt, một thánh hiền vĩ đại.

16. Tinh cần tu học chính pháp [như thế] sẽ thổi tắt được những phiền não tham sân si và tiêu trừ được những tai quái bất tường; cho nên muốn cuộc sống của mình được an ổn và tốt lành thì nên gần gũi và lễ kính người trí tuệ thâm thúy.

17. Thân thể bị dao búa sát thương đau đớn tới nhường nào cũng không bằng nỗi thống khổ do phiền não tham sân si mang lại, thân thể bị trúng tên đau đớn đến nhường nào cũng không bằng cái khổ do ngu si vô minh gây ra; phiền não, ngu si, vô minh, những nỗi khổ ấy của người đời có cường tráng bao nhiêu cũng không bạt trừ được, chỉ có lễ kính và học theo người đã liễu giải chính pháp, người có trí tuệ thâm thúy mới đoạn trừ được.

18. Theo người bác học đa văn để tu hành chính pháp là như người mù được thấy ánh sáng, như ở nơi u ám được ánh sáng rọi tới; người có trí tuệ ví như người dẫn đạo thế gian, mở rộng cửa tâm linh cho họ, ví như người sáng dẫn người mù vượt khỏi đường phiền não gập ghềnh.

19. Cho nên tu học với người đa văn trí tuệ sẽ làm phát khởi trí tuệ tiêu diệt ngu si, xa lìa ngã mạn và biên kiến, và thoát khỏi lối sống chìm đắm trong dục lạc. Phụng kính người có trí tuệ, người đa văn bác học tức là tích đức gom phước cho mình.

1. 多聞能持固,  奉法為垣牆,

 精進難踰毀,  從是戒慧成

Đa văn năng trì cố, phụng pháp vi viên tường, tinh tiến nan du hủy, tòng thị giới tuệ thành;

2. 多聞令志明,  已明智慧增,

 智則博解義,  見義行法安;

Đa văn lệnh chí minh, dĩ minh trí tuệ tăng, trí tắc bác giải nghĩa, kiến nghĩa hành pháp an;

3. 多聞能除憂,  能以定為歡,

 善說甘露法,  自致得泥洹。

Đa văn năng trừ ưu, năng dĩ định vi hoan, thiện thuyết cam lộ pháp, tự trí đắc nê-hoàn.

4. 聞為知法律,  解疑亦見正,

 從聞捨非法,  行到不死處。

Văn vi tri pháp luật, giải nghi diệc kiến chính, tòng văn xả phi pháp, hành đáo bất tử xứ.

5. 為能師現道,  解疑令學明,

 亦興清淨本,  能奉持法藏。

Vi năng sư hiện đạo, giải nghi lệnh học minh, diệc hưng thanh tịnh bổn, năng phụng trì pháp tạng.

6. 能攝為解義,  解則義不穿

 受法法者,  從是疾得安。

Năng nhiếp vi giải nghĩa, giải tắc nghĩa bất xuyên, thụ pháp ỷ pháp giả, tòng thị tật đắc an.

7. 若多少有聞,  自大以憍人,

 是如盲執燭,  炤彼不自明。

Nhược đa thiểu hữu văn, tự đại dĩ kiêu nhân, thị như manh chấp chúc, chiếu bỉ bất tự minh.

8. 夫求爵位財,  尊貴升天福,

 辯慧世間悍,  斯聞為第一。

Phù cầu tước vị tài, tôn quý thăng thiên phúc, biện tuệ thế gian hãn, tân văn vi đệ nhất.

9. 帝王禮聞,  天上天亦然,

 聞為第一藏,  最富旅力強。

Đế vương sính lễ văn, thiên thượng thiên diệc nhiên, văn vi đệ nhất tàng, tối phúc tộc lực cường.

10. 智者為聞屈,  好道者亦樂,

 王者盡心事,  雖釋梵亦然。

Trí giả vi văn khuất, hiếu đạo giả diệc lạc, vương giả tận tâm sự, tuy thích phạm diệc nhiên.

11. 仙人常敬聞,  況貴巨富人?

 是以慧為貴,  可禮無過是。

Tiên nhân thường kính văn, huống quý cự phú nhân? Thị dĩ tuệ vi quý, khả lễ vô quá thị.

12. 事日為明故,  事父為恩故,

 事君以力故,  聞故事道人。

Sự nhật vi minh cố, sự phụ vi ân cố, sự quân dĩ lực cố, văn cố sự đạo nhân.

13. 人為命事醫,  欲勝依豪強,

 法在智慧處,  福行世世明。

Nhân vi mệnh sự y, dục thắng y hào cường, pháp tại trí tuệ xứ, phúc hành thế thế minh.

14. 察友在為謀,  別伴在急時

 觀妻在房樂,  欲知智在說。

Sát hữu tại vi mưu, biệt bạn tại cấp thời; quán thê tại phòng lạc, dục tri trí tại thuyết.

15.  聞為今世利,  妻子、昆弟、友,

 亦致後世福,  積聞成聖智。

Văn vi kim thế lợi, thê tử, đệ, hữu, diệc trí hậu thế phúc, tích văn thành thánh trí.

16. 是能散憂恚,  亦除不祥衰,

 欲得安隱吉,  當事多聞者。

Thị năng tán ưu hoạn, diệc trừ bất tường suy, dục đắc an ẩn cát, phú sự đa văn giả.

17. 斫創無過憂,  射箭無過愚,

 是壯莫能拔,  唯從多聞除。

Chước sang vô quá ưu, xạ tiễn vô quá ngu, thị tráng mạc năng bạt, duy tòng đa văn trừ.

18. 盲從是得眼,  闇者從得燭,

 亦導世間人,  如目將無目。

Manh tòng thị đắc nhãn, ám giả tòng đắc chúc, diệc đạo thế gian nhân, như mục tương vô mục.

19. 是故可捨癡,  離慢豪富樂,

 務學事聞者,  是名積聚德。

Thị cố khả xả si, li mạn hào phú lạc, vụ học sự văn giả, thị danh tích tụ đức.  

Comments

Popular Posts

58. Vợ Chồng Trưởng Giả Tạo Tác Phù Đồ Sau Sanh Lên Trời

Truyện 58. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 5  Nước Xá-vệ có vị trưởng giả hay xây phù đồ và tăng phường, trưởng giả bị bệnh, mệnh chung sanh lên cõi trời Tam Thập Tam. Người vợ thương nhớ chồng, sầu ưu khổ não, vì thương nhớ nên giữ gìn phù đồ và tăng phường như lúc chồng còn sống. Người chồng ở trên trời tự quán sát, “Mình nhờ nhân duyên chi sanh lên cõi trời này?” Biết là nhờ công đức tạo tác tháp tự mà đắc sanh lên trời. Thấy thân mình là thân nhà trời, tâm sanh hoan hỉ, thường niệm tháp tự. Dùng thiên nhãn xem tháp tự của mình tạo nay ai chăm. Liền thấy vợ mình ngày đêm nhớ chồng, ưu sầu khổ não, lại vì chồng mà tu trị tháp tự. Người chồng niệm, “Vợ mình đối với mình có công đức rất lớn, nay phải xuống đó hỏi thăm an ủi.”  Liền từ trời giáng xuống bên vợ, nói vợ: “Em ưu sầu quá, do trong lòng nhớ anh.” Vợ hỏi, “Ông là ai mà khuyến gián tôi.” Đáp, “Anh là chồng em đây, nhờ nhân duyên xây tăng phường và tháp tự mà đắc sanh lên trời Tam Thập Tam, thấy em tinh cần chăm sóc tháp tự nên...

108. Tế Thần Cây

Truyện 108. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa có ông già, nhà cự phú, rất thích ăn thịt nên bày cách dối gạt, chỉ một cây đầu ruộng nói bầy con rằng “Gia nghiệp ta sở dĩ hài hòa, phú túc là nhờ ân phúc thần cây này, nay các con nên bắt dê trong bầy để tế thần ấy.” Con ông ấy theo lời cha dạy liền giết dê cúng báo ơn cây ấy, dưới gốc cây còn lập am tế trời. Người cha về sau thọ tận mệnh chung, bị hành nghiệp truy bức, sanh về trong bây dê nhà mình. Gặp lúc con mình muốn tế thần cây nên bắt một con dê, bắt phải cha mình, đem đi định giết. Dê bèn cười be be mà nói rằng, “Cây này nào có thần linh. Ta thời trước do ham ăn thịt nên gạt các con tế cây, rồi cùng các con ăn thịt này. Nay đền tội ác, tự mình phải chịu trước tiên.” Lúc ấy có một la-hán đi tới khất thực, thấy người cha quá cố chịu thân dê, nên cho người con trưởng mượn đạo nhãn để tự quan sát, mới biết đó là cha mình, trong lòng ôm mối áo não, liền hủy thần cây, sám hối tội quá và bắt đầu tu phúc, chẳng còn sát sanh nữa. Văn ...

109. Người đàn bà chán dục xuất gia

Truyện 109. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa có người đàn bà đẹp tuyệt trần, xuất gia tu theo pháp của ngoại đạo. Có người nói, “Dung nhan như vậy thời ở tục chứ vì sao xuất gia?” Bà đáp, “Như tôi hôm nay không phải là không đẹp, chẳng qua mới đây chán ghét dâm dục nên xuất gia. Lúc tôi còn tại gia nhờ đẹp mà sớm có thân phận, còn trẻ đã sinh con trai. Con tôi lớn lên khôi ngô không ai bằng, tự nhiên hóa ra tiều tụy như người có bệnh. Tôi hỏi vì sao bệnh thời nó không chịu đáp, hỏi mãi không thôi nó bất đắc dĩ nói, “Con không nói là vì sợ không toàn mạng, chừ nói ra đây thời chẳng còn mặt mũi chi nữa.” Rồi nó nói, “Con muốn dâm dục với mẹ, vì không được nên sinh bệnh.” Mẹ liền nói, “Tự cổ chí kim đời nào có chuyện đó?” Rồi tự nhủ, “Nếu mình không chìu thời chết mất con, nay đành phải nghịch đạo mà giữ mạng nó.” Bèn kêu đứa con lại cho nó thỏa lòng dục. Đứa con kéo lên giường thời mặt đất nứt toác, nó đang sống rớt thẳng xuống dưới, tôi kinh bố quá, đưa tay ra kéo, bắt được tóc nó. T...

107. Cầu Làm Thiên Chủ

Truyện 107. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Ngày xưa có một bà-la-môn thờ Trời Ma-thất, ngày đêm phụng sự. Trời ấy hỏi, “Ông cầu chi?” Bà-la-môn đáp, “Tôi cầu làm chủ tế trời.” Trời nói, “Nhà kia có bầy trâu, ông tới hỏi con đi đầu đàn ấy.” Liền theo lời của trời, tới hỏi trâu ấy, “Ngươi nay lấy chi làm khổ, lấy chi làm sướng?” Trâu liền đáp, “Khổ cùng cực, hai bên sườn bị ép, củi nặng oằn lưng, kéo khung giá, chở xe nặng mà không được nghỉ.” Người ấy lại hỏi, “Ngươi vì nhân duyên chi mà chịu thân trâu này?” Trâu liền đáp, “Tôi trước làm thiên chủ, phóng túng làm xằng, xài xể đồ tế trời, mệnh chung làm trâu, chịu khổ não này.” Nghe lời ấy rồi liền trở về nhà trời. Trời hỏi, “Ông nay còn muốn làm thiên chủ nữa không?” Bà-la-môn đáp, “Tôi thấy việc đó, thật không dám làm thiên chủ.” Trời nói, “Người ta làm thiện ác thì tự mà chịu lấy quả báo của việc mình làm.” Bà-la-môn sám hối sai lầm của mình, quay về tu các thiện hạnh.   Văn    雜寶藏經第2卷 https://tripitaka.cbeta.org