Skip to main content

Posts

Showing posts with the label văn ngôn

26. Đầu Đuôi Tranh Nhau

Dụ 26. Tạp Thí Dụ Kinh T0207 Xưa có con rắn đầu và đuôi nó tự tranh nhau. Đầu nói đuôi, ‘Tau quan trọng.’ Đuôi nói đầu, ‘Tau cũng quan trọng.’ Đầu đáp, ‘Tau có tai nghe, có mắt nhìn, có miệng ăn, lúc đi luôn đi đầu, vì vậy mà tau phải hơn mầy. Mầy không có những khả năng đó chớ nên đòi hơn.’ Đuôi đáp, ‘Tao cho mầy đi thì mầy mới đi được, nếu tao quấn thân cây ba vòng, ba ngày không buông ra thì đầu không đi kiếm ăn được, đói gần chết.’ Đầu nói với đuôi, ‘Mầy buông ra, cho mày hơn.’ Đuôi nghe nói vậy liền thả ra. Đầu lại biểu đuôi, ‘Mầy hơn cho mầy đi đầu luôn.’ Đuôi ra phía đầu đi trước, chưa được bao xa thì rớt xuống hố lửa mà chết.  Chuyện này dụ cho tăng đoàn kia có những vị thượng thủ đạo hạnh cao lại am thục kinh luật có khả năng quyết đoán giới luật, nhưng ở dưới hậu bối không chịu thuận tòng. Thượng tọa không quản chế được, đành nói với kẻ dưới: ‘Cho mầy tùy ý.’ Phạm sự bất thành, cả hai đều rơi vào phi pháp, dụ cho con rắn rơi vào hố lửa.     Văn 昔有一蛇頭尾自相與諍,頭...

21. Trí Giả Không Bao Giờ Chán Phúc Báo Tam Bảo T0205

Dụ 21. Tạp Thí Dụ Kinh T0205 Văn 昔佛在天王釋,數下供養三尊,唯摩訶迦葉獨不肯受。何以故?本願但欲度貧窮人故。於是天帝作權方便,夫人俱下作貧家公嫗,弊草屋下。時摩訶迦葉入城分衛,天帝公嫗迎為作禮,自說:「寒貧,願受麤食。」迦葉可之。反迦葉鉢盛滿甘露,使形色麤惡,其實而百味。方舉宮香甘非常,即三昧觀乃知天帝。迦葉言:「卿之福祚巍巍乃爾,何以故不厭足耶?」天帝報言:「三尊福報甚豐無量,是以智者未常厭足也!」 Âm Tích Phật tại, thiên vương Thích số hạ cung dưỡng tam tôn, duy Ma-ha Ca-diếp độc bất khẳng thụ. Hà dĩ cố, bổn nguyện đãn dục độ bần cùng nhân cố. Ư thị thiên đế tác quyền phương tiện, phu nhân câu hạ tác bần gia công ẩu, tệ thảo ốc hạ. Thời Ma-ha Ca-diếp nhập thành phân-vệ, thiên đế công ẩu nghênh vi tác lễ, tự thuyết, ‘Hàn bần, nguyện thụ thô thực.’ Ca-diếp khả chi, phản Ca-diếp bát thịnh mãn cam lộ, sử hình sắc thô ác, kì thật nhi bách vị. Phương cử cung hương cam phi thường, tức tam muội quan nãi tri thiên đế. Ca-diếp ngôn, ‘Khanh chi phúc tộ nguy nguy nãi nhĩ, hà dĩ cố bất yếm túc da?’ Thiên đế báo ngôn, ‘Tam tôn phúc báo thậm phong vô lượng, thị dĩ trí giả vị thường yếm túc dã!’ Nghĩa Xưa Phật còn tại thế, vua trời Đế Thích nhiều lần xuống hạ giới cung dưỡng tam...

50. Chỉ Có Lên Chứ Không Xuống

Dụ 50. Cựu Tạp Thí Dụ Kinh văn 昔有國王出遊,每見沙門輒下車為沙門作禮,道人言:「大王止,不得下車。」王言:「我上不下也。所以言上不下者,今我為道人作禮,壽終已後當生天上,是故言上耳不下也。」 âm Tích hữu quốc vương xuất du, mỗi kiến sa-môn triếp hạ xa vi sa-môn tác lễ, đạo nhân ngôn, ‘Đại vương chỉ, bất đắc hạ xa.’ Vương ngôn, ‘Ngã thượng bất hạ dã. sở dĩ ngôn thượng bất hạ giả, kim ngã vi đạo nhân tác lễ, thọ chung dĩ hậu đương sanh thiên thượng, thị cố ngôn thượng nhĩ bất hạ dã.’  Nghĩa Xưa có quốc vương ra ngoài du hành, mỗi lần thấy sa-môn là xuống xe tác lễ sa-môn. Sa-môn đạo nhân bảo, ‘Đại vương dừng xe là được rồi, không cần phải xuống xe.’ Vua đáp, ‘Trẫm lên chứ đâu có xuống. Sở dĩ nói lên chứ không phải xuống là vì nay trẫm tác lễ đạo nhân, sau khi thọ chung sẽ sinh lên trên trời. Vì vậy mà nói lên chứ không phải xuống.’ 舊雜譬喻經 https://tripitaka.cbeta.org

54. Đầu Với Đuôi (Bách Dụ Kinh)

Bách Dụ Kinh, Dụ thứ 54 Thí như có con rắn, đuôi nói với đầu, ‘Đáng lẽ tau đi đầu.’ Đầu nói đuôi, ‘Lâu nay tau toàn đi đầu, bây giờ sao phải đi sau mầy?’ Đầu cố đi đầu, đuôi quấn lấy một gốc cây không cho đi. Đành phải để đuôi đi đầu, lập tức rớt xuống hố lửa chết cháy.  Thầy và trò cũng thường như thế, theo phép thường sư phụ trưởng bối thường ở trước, bọn trẻ chúng ta nên theo dẫn đạo của sư phụ. Nhưng hàng hậu bối không chịu theo phép tắc, phạm hủy nhiều giới luật, vì đó mà kéo cả thầy lẫn trò rớt xuống địa ngục. nguyên văn 譬如有蛇,尾語頭言:「我應在前。」頭語尾言: 「我恒在前,何以卒爾?」頭果在前,其尾纏樹不 能得去,放尾在前,即墮火坑燒爛而死。 師徒弟子亦復如是,言師耆老每恒在前,我 諸年少應為導首。如是年少 不閑戒律 多 有所犯,因即相牽入於地獄。 phiên âm Thí như hữu xà, vĩ ngứ đầu ngôn, ‘Ngã ứng tại tiền.’ Đầu ngữ vĩ ngôn, ‘Ngã hằng tại tiền, hà dĩ tốt nhĩ?’ Đầu quả tại tiền, kì vĩ triền thụ bất năng đắc khứ, phóng vĩ tại tiền, tức đọa hỏa khanh thiêu lạn nhi tử. Sư đồ đệ tử diệc phục như thị, ngôn sư kì lão mẫu hằng tại tiền, ngã chư niên thiếu ứng vi đạo thủ. Như thị niên thiếu bất...

TỬ NGƯ LUẬN CHIẾN

TỬ NGƯ LUẬN CHIẾN(*) Quân Sở đánh Tống để cứu viện Trịnh. Vua Tống là Nhượng Công nghinh chiến. Đại Tư Mã là Công Tôn Cố ngăn cản, ‘Trời phế nhà Thương đã lâu, nay bệ hạ đòi vực dậy, [ trái mệnh trời] trời không dung thứ.’ [Nhượng Công] không chịu nghe. [Quân Tống] với quân Sở giao chiến ở bến Hoằng Thủy. Khi quân Tống hàng ngũ đã chỉnh tề thì quân Sở vẫn chưa qua sông. Đại Tư Mã thúc, ‘Chúng đông mà ta ít, thừa lúc chúng chưa qua sông, xin đại vương cho đánh.’ Nhượng Công đáp, ‘Không đánh được’. [Khi quân Sở] đã vượt sông nhưng thế trận chưa thành, [Đại Tư Mã] lại thúc đánh. Nhượng Công bác, ‘Chưa đánh được’. [Đợi cho quân Sở] bày trận xong mới đánh. Quân Tống đại bại. Nhượng Công bị thương ở đùi. Binh sĩ bị giết sạch. Người trong nước oán Nhượng Công. Nhượng Công biện hộ, ‘Quân tử không đánh bồi người đã bị thương, không bắt [tù binh] người đã hai thứ tóc. Phép nhà binh ngày xưa không ép người vào hiểm ải [1] . Quả nhân tuy là kẻ vong quốc còn sót lại cũng không tiến binh đánh kh...

17. ĐƯỢC THÌ ÍT MÀ MẤT THÌ NHIỀU

Bách Dụ Kinh, Truyện thứ 17 Xưa có thương nhân cho người khác mượn nửa đồng tiền, lâu không thấy trả nên đi đòi. Đi đường gặp sông lớn, thuê người ta hai đồng để qua sông. Tới nhà con nợ không gặp. Đường về qua sông lại mất hai đồng thuê đò. Vì nửa đồng nợ mà tốn bốn đồng tiêu, lại chịu thêm cái khổ đi đường mệt nhọc, bức não. Của nợ thì ít mà của mất thì nhiều, bị chúng nhân chê cười là phải.  Thế nhân cũng vậy, chạy theo tiếng thơm và lợi lộc nhỏ nhặt phải hủy đại hạnh. Túng thân những chuyện bại hoại, không biết sỉ nhục không kiêng đạo nghĩa, khiến cho đời nay bị khinh thị mà đời sau còn hứng khổ báo. Nguyên văn https://tripitaka.cbeta.org 債半錢喻 往有商人貸他半錢久不得償 ,即便往債。前有大河,雇他兩錢然後得渡,到彼往債竟不得見,來還渡河復雇兩錢。為半錢債而失四錢,兼有道路疲勞乏困,所債甚少所失極多,果被眾人之所怪笑。世人亦爾,要少名利致毀大行,苟容己身不顧禮義,現受惡名後得苦報。 Phiên âm TRÁI BÁN TIỀN DỤ Vãng hữu thương nhân thải tha bán tiền cửu bất đắc thường, tức tiện vãng trái. Tiền hữu đại hà, cố tha lưỡng tiền nhiên hậu đắc độ, đáo bỉ vãng trái cánh bất đắc kiến, lai hoàn độ hà phục cố lưỡ...

Vẽ Rắn Thêm Chân

Họa Xà Thiêm Túc Nguyên văn 畫蛇添足《戰國策·齊二》 楚有祠者,賜其舍人卮酒。舍人相謂曰:“數人飲之不足,一人飲之有餘。請畫地為蛇,先成者飲酒。” 一人蛇先成,引酒且飲之,乃左手持卮,右手畫蛇曰:“吾能為之足!”未成,一人之蛇成,奪其卮曰:“蛇固無足,子安能為之足?”遂飲其酒。 為蛇足者,終亡其酒。 Phiên âm Họa Xà Thiêm Túc  (Chiến Quốc Sách) Sở hữu từ giả, tứ kì xá nhân chi tửu. Xá nhân tương vị viết, ‘Sổ nhân ẩm chi bất túc, nhất nhân ẩm chi hữu dư. Thỉnh họa địa vi xà, tiên thành giả ẩm tửu.’  Nhất nhân xà tiên thành, dẫn tửu thả ẩm chi, nãi tả thủ trì chi, hữu thủ họa xà viết, ‘Ngô năng vi chi túc.’ Vị thành, nhất nhân chi xà thành, đoạt kì chi viết, ‘Xà cố vô túc, tử an năng vi chi túc?’. Toại ẩm kì tửu.  Vi xà túc giả chung vong kì tửu. Việt dịch Nước Sở có ông từ, thưởng cho môn nhân một bầu rượu. Môn nhân bàn với nhau, ‘Nhiều người uống thì không đủ, một người uống thì dư. Bây giờ thi vẽ rắn trên đất, ai xong trước uống.’ Một người vẽ xong trước, nâng rượu định uống, mà tay trái cầm bầu rượu còn tay phải vẽ rắn, nói, ‘Để tôi vẽ thêm chân.’ Vẽ chưa xong thì người kia vẽ rắn thành, giật lấy bầu rượ...

Bịt Tai Trộm Chuông

Bịt Tai Trộm Chuông Phạm Thị* bỏ trốn, có người thừa cơ lấy trộm được một quả chuông. Muốn vác chuông đi nhưng to quá không vác nổi. Dùng chùy phá chuông, chuông ngân vang. Sợ người ta nghe tới đoạt của mình nên bịt tai mình lại. Sợ người ta nghe chuông thì còn được, đàng này bịt tai mình cho người ta khỏi nghe thì đúng là hoang đường.  * chú thích trong nguyên văn: một dòng họ lớn về cuối đời Xuân Thu bên Tàu, bị những họ khác hợp sức đánh bại phải lưu vong Nguyên văn 掩耳盜鈴 范氏之亡也,百姓有得鐘者,欲負而走,則鐘大不可負;以錘毀之,鐘況然有聲。恐人聞之而奪己也,遽掩其耳。惡人聞之,可也;惡己自聞之,悖也! Yểm Nhĩ Đạo Linh Phạm thị chi vong dã, bách tính hữu đắc chung giả, dục phụ nhi tẩu, tắc chung đại bất khả phụ. Dĩ chuy hủy chi, chung huống nhiên hữu thanh. Khủng nhân văn chi nhi đoạt kỉ dã, cự yểm kì nhĩ. Ố nhân văn chi khả dã, ố kỉ tự văn chi bội dã. Trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh 舊雜譬喻經 có một truyện về chủ đề ăn trộm. Trộm Nồi Cơm Ngộ Đạo

Mâu Thuẫn

Mâu Thuẫn Dân nước Sở có người bán thuẫn và mâu, khen hàng của mình rằng: ‘Thuẫn của tôi rất cứng, không chi đâm thủng được. Mâu của tôi rất nhọn, đã đâm không chi là không thủng. Có người bảo: ‘Thử lấy mâu của ông đâm thuẫn của ông coi thế nào.’ Người kia không biết phải làm sao. Thế để biết, cái thuẫn đâm không thủng với cái mâu không chi đâm không thủng không thể cùng một lúc tồn tại. 自相矛盾 楚人有鬻楯與矛者,譽之曰:「吾楯之堅,物莫能陷也。」又譽其矛曰:「吾矛之利,於物無不陷也。」或曰:「以子之矛,陷子之楯,何如?」其人弗能應5>也。夫不可陷之楯,與無不陷之矛,不可同世而立。 Nguyên văn dẫn  ở đây . Phiên âm Sở nhân hữu dục thuẫn dữ mâu giả, dự chi viết, ‘Ngô thuẫn chi kiên vật mạc năng hãm dã.’ Hựu dự kì mâu viết, ‘Ngô mâu chi lợi, ư vật vô bất hãm dã.’ Hoặc viết, ‘Dĩ tử chi mâu hãm tử chi thuẫn, hà như?’ Kì nhân phất năng ứng dã. Phù bất khả hãm chi thuẫn dữ vô bất hãm chi mâu bất khả đồng thế nhi lập.

Khắc Chu Cầu Kiếm

Khắc Dấu Lên Thuyền Tìm Gươm Có người nước Sở qua sông, thanh gươm từ trên thuyền rơi xuống nước. Liền khắc dấu chỗ đó lên mạn thuyền, rồi nói: ‘Đây là chỗ mình rơi mất gươm.’ Thuyền dừng lại, người kia theo dấu đó xuống nước mò gươm. Thuyền đi rồi mà gươm thì không, mò gươm như vậy chẳng phải hồ đồ hay sao! 刻舟求劍 楚 人 有 涉 江 者 ,其 劍 自 舟 中 墜 於 水 。遽 契 其 舟 , 曰 : “ 是 吾 劍 之 所 從 墜 。 ”舟 止 , 從 其 所 契 者 入 水 求 之 。舟 已 行 矣 , 而 劍 不 行 。求 劍 若 此 , 不 亦 惑 乎 ! ( nguyên văn dẫn của chinesewords.org ) Phiên âm Khắc Chu Cầu Kiếm Sở nhân hữu thiệp giang giả, kì kiếm tự chu trung trụy ư thủy. Cự khế kì chu, viết: ‘Thị ngô kiếm chi sở tòng trụy.’ Chu chỉ, tòng kì sở khế giả nhập thủy cầu chi. Chu dĩ hành hĩ nhi kiếm bất hành. Cầu kiếm nhược thử bất diệc hoặc hồ! Bách Dụ Kinh có một thí dụ tương tự:  百喻經

19. Đáp Thuyền Mất Chén

Bách Dụ Kinh, Dụ thứ 19 Ngày xưa có người đáp thuyền đi biển, đánh rơi một cái chén bạc xuống biển, bèn nghĩ: ‘Chừ mình vạch nước làm dấu, để đó đi đã, sau lấy lại.’ Đi được hai tháng tới bổn quốc của tôn sư, thấy có con sông bèn lội xuống tìm cái chén mất hôm trước. Người ta hỏi: ‘Ông định làm chi?’ Đáp: ‘Tui bửaa trước mất cái chéng, chừ muốn tìm lại.’  - Mất mô? - Mới xuống biển thì mất. - Lâu chưa? - Hơn hai tháng. - Mất hơn hai tháng, răng tìm chỗ ni? - Khi nớ rớt chéng, tôi có vạch nước làm dấu. Chỗ đánh dấu nớ với chỗ ni không khác nhau, cho nên tìm chỗ ni. - Nước tuy không khác nhau, nhưng bửa trước ông mất chỗ nớ, chừ tìm chỗ ni, răng mà ra được? Ai nghe chuyện cũng phá lên cười.  Phường ngoại đạo cũng vậy, không theo chính pháp tu, lại theo những phép giả dối, bày nhiều kiểu khổ hạnh để cầu giải thoát. Họ như người ngu kia, mất chén chỗ này lại sang chỗ khác tìm. ( đăng lần đầu trên facebook ) 乘船失釪喻 昔有人乘船渡海,失一銀釪 * 墮於水中, 即便思念:「我今畫水作記,捨之而去後當 取之。」行經二月到師子諸國,見一河水, 便入其中覓本失...

Sáng Ba Chiều Bốn

Nước Tống có ông già nuôi khỉ, cưng lắm, nuôi thành bầy. Chủ biết bụng khỉ mà khỉ cũng đọc được ý chủ. Vun vén khẩu lượng của người nhà để thỏa lòng tham của khỉ. Mãi thì thâm, phải bớt đồ ăn chúng lại, nhưng sợ chúng không chịu nghe. Lúc đầu lừa chúng rằng: ‘Cho bây ăn niễng, sáng ba củ, chiều bốn củ, đủ không?’ Bầy khỉ tức quá nhảy đổng lên. Lát sau lại nói: ‘Cho ăn niễng, sáng bốn chiều ba, đủ không?’ Bầy khỉ vui vẻ chịu liền. 朝三暮四 宋有狙公者,愛狙,養之成群,能解狙之意;狙亦得公之心。損其家口,充狙之欲。俄而匱焉,將限其食,恐眾狙之不訓于己也。先誑之曰:“與若芧,朝三而暮四,足乎?”眾狙皆起怒。俄而曰:“與若芧,朝四而暮三,足乎?”眾狙皆伏而喜。 (nguyên văn  朝三暮四 ) Phiên âm Tống hữu thư công giả, ái thư, dưỡng chi thành quần, năng giải thư chi ý; thư diệc đắc công chi tâm. Tổn kì gia khẩu, sung thư chi dục. Nga nhi quỹ yên, tương hạn kì thực, khủng chúng thư chi bất huấn ư kỉ dã. Tiên cuống chi viết,‘Dữ nhược trữ, triêu tam nhi mộ tứ, túc hồ?’. Chúng thư giai khởi nộ. Nga nhi viết, ‘Dữ nhược trữ, triêu tứ nhi mộ tam, túc hồ?’ Chúng thư giai phục nhi hỉ. Bách Dụ Kinh có dụ thứ 34 ý t...

34. Dâng Nước Lành Cho Vua

Xưa có thôn kia cách vương thành năm do-tuần, trong thôn có nước thơm lành. Vua lệnh dân làng ngày ngày phải tiến cống thứ nước ấy. Dân làng mệt mỏi, muốn bỏ đi. Lúc ấy thôn chủ nói mọi người như vầy: ‘Bà con đừng đi! Để tôi tâu vua đổi năm do-tuần thành ba do-tuần, cho bà con gần hơn, đi lại đỡ mệt.’ Xong lên tâu vua, vua đồng ý cải xưng thành ba do-tuần. Chúng nhân nghe vậy rất mừng. Có người nói: ‘Vẫn năm do-tuần như cũ, đổi cái chi mô.’ Dân tuy nghe vậy vẫn tin lời vua, rốt cục không bỏ đi. Người đời cũng vậy, tu chánh-pháp để sau thoát ngũ đạo [1] mà nhập niết-bàn-thành thì nản lòng muốn bỏ ngang, hành trình vượt sinh tử bị đình đốn không tiến được thêm nữa. Pháp vương Như Lai có phương tiện quyền biến, nhất thừa pháp tách ra nói làm ba [2] . Những người căn tính tiểu thừa nghe vậy mừng rằng dễ theo, tiếp tục tu thiện pháp, thêm nghiệp lành, tìm cách ra khỏi biển sinh tử. Sau nghe có người nói không hề có tam thừa, xưa nay chỉ một đạo lộ mà thôi vẫn tin lấy lời Phật, không chịu b...