Skip to main content

Posts

Showing posts with the label Ngồi gốc cây kể chuyện Bụt

56. Hai Con Quỷ Tranh Nhau Xác Chết

Có ông kia đi xa, đêm một mình tá túc trong gian nhà hoang. Nửa đêm có con quỷ vác một xác chết tới; lại có con quỷ khác đuổi theo, nhè con quỷ tới trước mà trợn mắt quát: ‘Xác chết này của tao, tại sao mày vác tới đây?’ Quỷ tới trước cãi: ‘Của tao, đương nhiên tao vác tới đây.’ Quỷ tới sau mắng: ‘Người chết này của tao mới đúng.’ Hai con quỷ hai bên nắm chặt tay người chết tranh chấp nhau. Quỷ tới trước nói: ‘Ở đây có người, có thể hỏi hắn ai vác xác này tới?’ Quỷ tới sau liền hỏi: ‘Xác chết này ai vác tới?’ Người kia nghĩ bụng: ‘Hai con quỷ mạnh tợn, mình nói thật cũng chết mà nói láo cũng chết. Đằng nào cũng chết việc chi phải nói láo?’ Nghĩ vậy rồi đáp: ‘Của quỷ tới trước vác tới.’ Quỷ tới sau trợn ngược mắt, bẻ lìa một tay của người ấy rồi quẳng xuống đất. Quỷ tới trước liền lấy một tay của người chết lắp vào. Cứ thế hai tay, hai chân, đầu, và toàn thân đều đổi cho người chết. Xong đâu vào đấy hai con quỷ cùng nhau ăn sạch thân thể của ông kia. Ăn xong xoa miệng rồi bỏ đi. Ngư...

55. Nhân Duyên Sariputra Lợi Trí Thông Minh

Thuở xưa, đại để tử của Phật là Sariputra xuất gia không lâu thì dứt hết phiền não, chứng A La Hán quả. Các tì khưu khác thấy lạ và hiếu kì, mới nói với Thế Tôn: ‘Sariputra quá khứ làm gì mà đời này có được lợi trí thông minh như thế, chứng đắc vô nghi hoặc trí như vậy?’ Phật đáp: ‘Thiện hay ác nghiệp tạo tác trong đời quá khứ, thì quả báo quay lại tự thân. Nay tôi nói rõ cho các ông biết những việc làm trong đời quá khứ của Sariputra, cùng nói cho các ông biết cái đạo lí nhân nào quả ấy.’ Trong đời quá khứ ở một thôn lạc nọ, có một vị Bà La Môn, cưới vợ không lâu thì sinh được một người con trai; một vài năm sau lại sinh được một người con gái. Hai anh em lớn lên, thì cha mẹ già đi rồi mất. Người anh kinh qua cái chết của cha mẹ, muốn đi vào núi rừng ẩn cư, và mang theo người em gái ở cùng. Hai anh em nhặt nhạnh hoa trái mà sống. Các vị, loài rắn đen (đại hắc xà) có năm thứ họa hoạn, một là đa sân, hai là đa hận, ba là làm ác, bốn là vô ân, năm là hiểm độc. Người nữ cũng có năm th...

54. Truyện Cưu Na La, Con Vua A Dục (phần 4, hết)

Về sau Cưu Na La cùng vợ rời khỏi Đức Xoa Thi La hướng cố quốc mà đi. Hai vợ chồng lớn lên trong phú quý, thậm chí chưa từng đi đường xa, làm sao kham được cái lụy đi đường gian nan? Hai người trên đường ăn sương ngủ gió, nhờ Cưu Na La giỏi đánh đàn, biết ca xướng và tấu nhạc nên đi đường dùng tài đó mà kiếm ăn, dần dần về được bổn quốc. Lúc tiến vào hoàng cung thì bị lính giữ cửa ngăn trở, đành phải đi ở trong chuồng ngựa. Quá nửa đêm, Cưu Na La đánh đàn mà hát, rằng: ‘Mắt của ta đã mất, nhưng đã thấy tứ đế.’ Lại nói kệ: ‘Người có trí tuệ, thấy được chân tướng sáu căn và sáu trần, lấy trí tuệ làm đèn soi thì có thể ra khỏi sinh tử. Cái khổ của chúng sinh hữu tình trong tam giới tất cả đều từ tâm mà ra, nay phải thấy cho rõ những lầm lạc của chúng sinh hữu tình trong tam giới. Muốn cầu cái vui lớn, thì phải quán niệm để thấy rõ châng tướng sáu căn và sáu trần.’ (*) Vua A Dục nghe thấy thanh âm quen thuộc trong lòng rất đỗi vui mừng. Vua nói: ‘Hôm nay có người nói kệ, lại nghe tiến...

54. Truyện Cưu Na La, Con Vua A Dục (phần 3)

Phu nhân của vua A Dục lợi dụng cơ hội bảy ngày làm vua, lấy danh nghĩa quốc vương, phát lệnh cho dân nước Đức Xoa Thi La lấy mắt của Cưu Na La. Chiếu văn rằng: ‘Quyền lực nay trong tay ta, uy danh ta kinh khiếp, Cưu Na La vương tử dám phạm uy quyền của ta. Nay sắc lệnh quốc dân lấy hai con mắt của hắn. Việc này các ngươi phải làm cho lẹ.’ Chiếu văn cần có ngọc ấn của quốc vương, bà ta lợi dụng lúc A Dục ngủ say, lẻn vô lấy ngọc ấn, đột nhiên A Dục giật mình tỉnh giấc. Phu nhân hỏi: ‘Đại vương, việc gì khiến người kinh hoảng?’ Vương đáp: ‘Ta mộng thấy có con kền kền muốn lấy hai mắt của Cưu Na La. Mộng chẳng lành, nên hoảng sợ.’ Phu nhân đáp: ‘Cưu Na La đang mọi bề tốt lành. Đại vương không nên lo lắng.’ Lát sau, vua lại giật mình dậy. ‘Ta mộng thấy Cưu Na La râu tóc rối bù, móng tay vừa dài vừa nhọn, miệng lại không nói được. Đó là điềm chẳng lành.’ Phu nhân lại vẫn nói: ‘Vương tử đang mọi bề tốt lành, đại vương chớ lo.’ Đợi tới lúc A Dục ngủ say, phu nhân liền trộm đi ngọc ấn, rồi s...

54. Truyện Cưu Na La, Con Vua A Dục (phần 2)

Phía Bắc vương triều Khổng Tước có một nước tên là Đức Xoa Thi La, nước ấy có việc chống lại thánh dụ của vua A Dục. A Dục nghe chuyện, định đích thân sang nước ấy hỏi tội. Đại thần can: ‘Đại vương, không cần đại vương đích thân đi, chỉ cần phái Cưu Na La đi là được.’ A Dục hạ lệnh cho Cưu Na La đi sang Đức Xoa Thi La, Cưu Na La tuân lệnh. A Dục coi con như cõi lòng mình, lúc Cưu Na La sắp xuất hành, vua cảm động, nói kệ: ‘Ta nay nói cho mọi người nghe, Cưu Na La tuy là con nhưng ta coi như chính tâm mình. Vì tấm lòng này của ta mà chuẩn bị mọi sự cho đàng hoàng.’ (*) Theo lệnh của A Dục phải sửa soạn đạo lộ cho nghiêm ngặt, người già, người bệnh, người chết không được xuất hiện trên đường đi của Cưu Na La, rồi vua đích thân tiễn Cưu Na La một đoạn đường. Hai cha con cùng ngồi một xe, lúc tiễn biệt, A Dục ôm cổ Cưu Na La, nhìn vào mắt con, khóc mà nói: ‘Người ta nhìn mắt con, thì trong lòng an vui, nếu có bệnh thì bệnh tiêu tan.’ Lúc ấy có một thầy tướng Ba La Môn nhìn thấy Cưu Na L...

54. Truyện Cưu Na La, Con Vua A Dục (phần 1)

Vua A Dục của nước Ấn Độ cổ trong một ngày xây xong tám vạn bốn ngàn cái tháp, cũng trong ngày ấy phu nhân là Phù Dung sinh hạ một người con trai, mặt mày xinh đẹp, đẹp nhất là đôi mắt, ai trông thấy cũng mừng khen. Cung nhân lập tức báo A Dục biết: ‘Đại vương, công đức tạo tháp thù thắng, phu nhân hôm nay sinh quý tử.’ A Dục nghe tin rất mừng, nói: ‘Hôm nay ta có đại hỉ. Dòng họ Khổng Tước vang danh khắp nơi. Cung nhân nên biết, vương pháp của ta nhờ nó mà lớn mạnh.’ Nhân đó, mới đặt tên vương tử là Đạt Ma Bà Đà Na (nghĩa là Pháp Tăng Trưởng). A Dục nhìn thấy đứa trẻ, vui khôn xiết, nói kệ: ‘Con ta đôi mắt đẹp, nhờ đức lành mà có, ánh quang minh rực rỡ, như hoa Ưu Bà La. Đôi mắt tinh anh trên khuôn mặt đoan chính, như trăng rằm mùa thu.’ Vua A Dục hỏi các đại thần: ‘Các ông từng thấy ai có đôi mắt như hoàng tử không?’ Đáp: ‘Trong muôn người thật chưa từng thấy. Nghe nói trên Núi Tuyết có loài chim tên là Cưu Na La, mắt nó cũng đẹp như mắt hoàng tử.’ Chư thần nói kệ: ‘Trên đỉnh Núi T...

52. Thân tâm an lạc

Ngày xưa, lúc ở vườn Kì Thọ Cấp Cô đ ộc thuộc nước Xá Vệ Bụt có lần khai thị với chúng đệ tử: “Trên đời có bốn loại người tu hành: loại thứ nhất là thân an lạc mà tâm không an lạc, loại thứ hai tâm an lạc mà thân không an lạc, loại thứ ba là thân tâm đều không an lạc, và loại thứ tư là thân tâm đều an lạc pháp hỉ. Thế nào gọi là người tu hành thân an lạc mà tâm không an lạc? Có người đi tu nhờ được chúng cư sĩ bố thí làm phước, cho nên tứ sự - y bị, ăn uống, chỗ ngồi, thang dược – đều không thiếu. Nhưng do sức tu hành chưa vững nên phiền não vẫn chưa đoạn trừ, chưa thành đạo quả, tương lai sẽ phải sinh tử luân hồi, khó tránh phải đọa vào đường ác ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Người tu hành như vậy gọi là thân an mà tâm không an. Còn như   thế nào   gọi   là người tu hành tâm an lạc thân bất an lạc? Có hành giả chứng được quả vị A-la-hán, do không tích cực tu thiện bồi phúc, tích tác công đức nên không được cung dưỡng tứ sự y phục, đồ ăn uống, ngọa cụ và thuốc men. Nh...

51. Ba loại hương thơm nhất thế gian

Ngày xưa, lúc Bụt đang ở vườn Kì Thọ của ông Cấp Cô Độc thuộc nước Xá Vệ, có một hôm, tôn giả Ananda đang ở chỗ yên lặng tư duy Phật pháp, trong lòng bỗng sinh khởi một nghi vấn: “Thế gian có loại hương nào không kể là gặp lúc nghịch gió, thuận gió, hoặc vừa nghịch gió vừa thuận gió đều có thể ngửi được mùi không?” Để giải trừ mối nghi hoặc trong lòng, tôn giả đi tới trước Bụt, cung kính làm lễ, đứng qua một bên Bụt và đem nghi vấn ấy ra hỏi Thế Tôn. Thế Tôn đáp: “Quả thật trên đời có loại diệu hương như thế. Vô luận là ngược gió, xuôi gió, hoặc cả xuôi lẫn ngược gió mùi thơm đều gieo khắp.” Ananda hỏi tiếp: “Loại hương gì mà hiển hiện mùi thơm như thế?” Thế Tôn đáp tôn giả: “Có ba loại hương, chỉ nhờ hương khí của nó thôi mà cho dù có gặp   nghịch phong hay thuận phong cũng đều tỏa ngát mùi thơm.” Ananda hỏi: “Xin thầy cho biết ba loại hương đó. ” Bụt đáp: “Giới hương, văn hương, và thí hương. Đó là ba loại hương mà bất luận xuôi ngược gió gì cũng đ...

50. Cái hộp báu

Ngày xưa có một người gia cảnh bần cùng, nợ nần chồng chất, mà không đủ sức trả nên phải bỏ xứ mà đi. Trên đường người ấy đi, ở một nơi vắng vẻ, bên vệ đường có một hộp châu bảo, bên trong chứa đầy trân kì bảo vật, trên bảo vật có phủ một tấm gương. Người cùng khổ ấy đi qua, thấy bốn bề vắng người, bèn nhặt hộp ấy lên mở ra, thấy bên trong toàn là trân kì dị bảo. “Phát tài đến nơi rồi!” Người cùng khổ ấy trong lòng mừng rỡ vô cùng. Đang lúc hí hửng như thế, đột nhiên thấy trong gương có người, người ấy giật mình kinh hoảng, vội vã ríu rít xin lỗi: “Tôi tưởng trong hộp không có chi, chỉ là cái hộp không, không biết là ông có ở trong này, xin ông chớ hiểu lầm, tôi thật không có ý lấy đi đồ gì của ông.” Nói rồi người cùng khổ ấy không kịp làm rõ đầu đuôi chuyện gì, liền vọt đi nhanh như cắt . Thì ra cái mà người cùng khổ ấy thấy trong gương chính là thân ảnh của mình thôi.   Phàm phu trong cuộc nhân sinh đầy phiền não này gặp được Phật pháp, đó chính là người cù...

49. Sa-di đắc trường thọ

Ngày xưa có vị La Hán nhận một chú tiểu sa-di làm đồ đệ. Một hôm vị La Hán ấy nhập định, quán sát thấy tiểu sa-di chỉ còn bảy ngày thọ mạng, nên từ bi bảo trò về thăm cha mẹ, rồi bảy hôm sau trở lại. Tiểu sa-di từ biệt sư phụ, đeo túi hành lí nhỏ xuống núi. Trên đường về nhà chú tiểu sa-di thấy một đàn kiến đang trôi trên mặt nước, sắp bị nước dìm chết. Chú tiểu sa-di ấy sinh khởi lòng từ bi, lập tức cởi áo ca-sa, đắp đất ngăn nước, rồi vớt đàn kiến đặt lên nơi cao ráo. Nhờ vậy mà cả đàn kiến được cứu sống. Bảy hôm sau, tiểu sa-di vui vẻ về chùa, sư phụ thấy sa-di ấy về thì lấy làm kinh quái. “Rõ ràng là nó chỉ còn bảy ngày thọ mệnh, vì sao lại còn về được? Rốt cục là có chuyện gì?” Nghĩ vậy rồi nhập định lấy thiên nhãn quán sát, nguyên lai là tiểu sa-di nhờ phát tâm từ bi, cứu lấy đàn kiến mà thêm phước, kéo dài mạng sống. --- Tự cổ chí kim loài người dốc lòng cầu trường sinh bất lão, nhưng rốt cục chỉ là nhất vô sở đắc, tiểu sa-di chỉ làm một việc rất dễ mà lại tăng phước t...

48. Thợ gốm và con lừa, ai hay hơn ai?

Ngày xưa có một vị Bà La Môn, muốn mở một đại pháp hội, mới bảo đệ tử là A Tam rằng: “Trong pháp hội cần phải có đồ gốm, ngươi ra chợ tìm một người thợ gốm về đây.” A Tam vâng lời tới nhà một người thợ gốm, thì thấy người thợ gốm từ ngoài rầu rĩ đi vào, vừa ngồi xuống là bắt đầu khóc lóc thê thảm. A Tam lấy làm quái dị, hỏi ông ta vì sao khóc lóc thảm thiết như vậy. Thợ gốm gạt nước mắt đáp: “Sáng sớm hôm nay, tôi lấy lừa chở đồ gốm ra chợ bán, ra khỏi công chưa được bao lâu thì con lừa đột nhiên đi chuệnh choạng, vấp chân, thế là bao nhiêu đồ gốm nhiều năm khổ cực mới làm thành vỡ nát ra đất hết.” A Tam nghe xong đầu đuôi câu chuyện, cao hứng bảo: “Con lừa này thật là ngu quá. Đồ gốm biết mấy năm công phu mới làm xong, tự dưng đùng một cái phá sạch. Ông bán con lừa này lại cho tôi đi.” Thợ gốm nghe vậy vui vẻ chịu liền. A Tam cưỡi trên lưng lừa vui vẻ đi về; Bà La Môn thấy lạ hỏi: “Ngươi không đưa thợ gốm về, lại cưỡi con lừa về làm gì?” A Tam đắc chí đáp: “Con lừa này h...

47. Nước mía

Ngày xưa có hai người cùng trồng mía ước định với nhau rằng, người nào trồng được mía ngon lành và nhiều nước hơn thì người ấy sẽ được tưởng thưởng. Ước định rồi hai người liền bắt tay làm ruộng, bón phân. Một người đột phát ý tưởng lạ: “Nước mía ngọt như vậy, nếu dùng tưới cho ruộng mía, thì sau này mía trồng ra nhất định sẽ ngọt hơn.” Nói rồi người ấy ngày đêm không ngừng ép lấy rất nhiều nước mía, vừa tưới ruộng, vừa kì vọng sẽ thật hiện được ý muốn bội thu. Nhưng mà không ai ngờ rằng nước mía lại làm hư những cây mía con mới trồng xuống, không những giấc mộng nước mía ngon đã thành mộng huyễn bọt nước rồi mà còn mất hết nước mía vô ích nữa. Suy ngẫm Rán sức làm việc, rồi còn phải biết rõ nhân quả nữa, thì mới có thể có được quả báo viên mãn. Nếu chỉ để mắt truy cầu quả báo tương lai mà vì không liễu giải đạo lí nhân quả nên gieo sai nhân, thì chỉ biến hay thành dở, tăng thêm ác quả. Hiểu đúng phép nhân quả, từ từ rán sức gieo nhân, đó mới chính là quan niệm chính xác về...

46. Một hớp đòi uống hết nước sông

Ngày xưa có một đoàn lữ hành đi dưới mặt trời chói chang, vì đường xa lặn lội nên thân thể vô cùng mệt mỏi và đói khát, có làm thế nào thì trong hoang mạc cũng không tìm đâu ra được một giọt nước. Cả đoàn người chỉ còn cách kéo lê tấm thân mệt mỏi đó qua từng ngọn núi một, cuối cùng cũng tới được một bến nước. Nước sông trong trẻo khiến đoàn người lữ hành vội vàng lội xuống uống một hơi. Nhưng trong đoàn người có một người chỉ đứng yên nhìn nước sông, không chịu xuống uống nước. Những người cùng đi lấy làm lạ hỏi: “Không phải ông không khát cháy, tìm khắp cho được chỗ có nước mà uống đó sao? Giờ tới bến sông rồi, vì sao còn chưa xuống uống?” Người lữ hành kia thần tình nghiêm túc đáp: “Nếu mà nước sông này tôi uống hết được, thì tôi đã uống từ lâu rồi. Nay nước nhiều như vậy, tôi có uống thế nào cũng không hết. Vì vậy mà tôi chẳng uống, thế thôi.” Cả bọn nghe xong, ai cũng rộ lên cười.

45. Mau mau lớn

Nhà vua hôm nay rất vui, vì công chúa nhỏ vừa mới hạ sinh. Công chúa nhỏ rất đẹp, nhà vua không rời con nửa bước, ngắm nhìn con mãi. “Công chúa nhỏ như vậy, lúc nào mới lớn lên đây?”, nghĩ vậy rồi nhà vua cho vời ngự y vào. Vua hỏi, “Khanh có thuốc hay gì không, để cho công chúa uống vào là ngày mai lớn lên được.” Ngự y đáp, “Đương nhiên là có. Nhưng mà thiếu dược thảo, cho nên phải đi phương xa tìm.” Nhà vua nghe xong, liền thúc ngự y mau đi tìm. Trước khi ra đi, ngự y thận trọng giao ước với nhà vua: “Từ nay cho tới khi thần về nước, hoàng thượng tuyệt không tới gặp công chúa nữa, nếu không thì dù có lấy được dược thảo về, cũng vô hiệu.” Nhà vua quả nhiên nhớ kĩ nằm lòng lời ngự y, từ đó không tới gặp công chúa nữa, chỉ một lòng trông ngóng ngự y mau mau về. Một năm, hai năm trôi qua, tới mười hai năm sau thì ngự y tần tảo gió bụi trở về, và có đem theo dược thảo, đem cho công chúa uống, rồi sau đó dắt công chúa tới trước mặt vua. Nhà vua thấy trước mắt mình một người con gái...

44. Xây nhà ba tầng

Ngày xưa có một người tên là A Tam, giàu có hơn người, có thể nói là của cải đầy nóc, nhưng lại ngu si không ai bằng. Có một hôm A Tam tới nhà bạn làm khách, thấy tòa nhà ba tầng nguy nga của bạn, phú lệ đường hoàng, thì vô cùng thích thú, nghĩ bụng: “Của cải mình đâu có thua ông ta, mình cũng phải xây một căn nhà như vậy.” Hôm sau trời mới tờ mờ sáng, A Tam đã cho người đi tìm thợ mộc, chuẩn bị xây nhà. Người thợ mộc ấy chính là người đã kiến tạo căn nhà ba tầng cho người bạn của A Tam. A Tam trong lòng mừng rỡ, đem căn nhà ấp ủ trong lòng ra nói cho thợ mộc nghe. Thợ mộc nghe xong nói: “Không có gì, ông cứ yên tâm. Tôi bảo đảm sẽ làm cho ông một căn nhà ba tầng xuất chúng.” Quả nhiên người thợ mộc không nuốt lời, qua hôm sau đã mang người tới bắt đầu đào bới, đục gõ. A Tam thấy thế, rất là hưng phấn và kì vọng. Xây nhà lầu, thì thứ nhất là phải đào móng, người thợ mộc tài ba đó đương nhiên không thể làm khác. Trước tiên ông cho người đào đất, san phẳng, làm móng, làm việc h...

43. Đau chân

Có một vị trưởng giả thu nạp được hai người đệ tử. Có một hôm, trưởng giả đau chân, gọi hai người đệ tử lại, rồi bảo mỗi người vỗ về, xoa xát mỗi chân để cho đỡ đau. Hai người đệ tử đó thường ngày đã oán ghét, ghen tị nhau, lúc ấy càng như oan gia đối đầu, thật không thể nào nhìn mặt nhau được. Hai người vừa xoa chân cho thầy, vừa cạnh nạnh nhau. Bỗng một vị nghe có người gọi mình, liền đứng dậy đi. Vị kia nhìn quanh thấy bốn bề không có người, mừng thầm: “Có dịp rồi. Phải dạy cho nhà ngươi một bài học mới được.”. Nghĩ bụng liền nhặt lấy một hòn đá, rán gân rán sức nhè chân của vị trưởng giả mà nện, làm cho cái chân của vị đệ tử kia đang xoa xát dở bị gãy. Vị kia trở vô thấy vậy, không nói nửa lời, phẫn nộ, nhặt một hòn đá trên mặt đất, cũng nhè cái chân của vị đệ tử kia xoa xát mà nện. Vị trưởng giả đáng thương chân đau đã chưa hồi phục được, lại vì hai đứa đệ tử oán hận nhau mà càng chuốc thêm họa. Viết lại theo “Bách Dụ Kinh” Oán ghét và tật đố chính là hai người đệ tử của...

42. Chia đều

Ngày xưa nước Ma-la (?) có một phú ông, bị trọng bệnh và biết mình không còn sống bao lâu, mới gọi hai người con lại bên giường mà dặn: “Cha chết rồi hai anh em con nhớ chia đều tài sản…”. Nói chưa xong thì phú ông đã vãng sinh. Hai anh em thấy gia tài lớn thì sinh lòng tham, bắt đầu tranh đoạt, có chia như thế nào hai người trước sau cũng không chịu. Lúc ấy có một lão già ngu dốt bảo: “Để ta chỉ cho cách chia đồ đồng đều, hai ngươi lấy hết tài sản rồi nhè chính giữa mà xẻ ra hai là ổn.” Nghe xong hai người không nói mà vui mừng chịu rằng đó thiệt là cách hay. Rồi vội vàng đem áo quần, chén bát, bình chậu, tiền tệ, tất cả gia sản đều cứ chính giữa cẩn thận cắt ra làm hai. Trong vụt chốc, vạn quán gia tài biến thành một đống đồng nát dẻ rách không có giá trị gì nữa. Viết lại theo “Bách Dụ Kinh” Người, việc, vật nếu cứ nhất nhất đem phép nhị phân thích chán, yêu ghét ra đối đãi thì hết thảy đều mất hết.

41. Thưởng vàng

Ngày xưa có một vị nhạc sư, tài chơi đàn là tuyệt luân. Nhà vua nghe kì danh đã lâu, một hôm mời ông ta vào hoàng cung diễn tấu, hứa diễn tấu xong sẽ thưởng cho ngàn lượng vàng. Nhạc sư nghe ‘thưởng ngàn lượng vàng’ thì gật đầu chịu liền, lại lấy hết tài nghệ của mình ra diễn xuất. Nhạc khúc du dương, ngón đàn thanh thúy, được mọi người hoan hô. Diễn tấu xong, nhạc sư nghiêng mình trước quốc vương, thỉnh cầu tưởng thưởng; quốc vương lúc này tiếc lời trót hứa của mình, mới nói khéo rằng: “Nhạc của ông diễn xuất chỉ cho lỗ tai của ta một chút khoái lạc ngắn ngủi mà thôi, sở dĩ ta nói sẽ cho người ngàn lượng vàng, cũng chỉ là cho ngươi vui tai tạm thời thôi vậy.” Suy ngẫm Mọi sự trên đời cũng như chuyện ‘thưởng vàng’ này, chúng ta thường nghĩ mình đã làm được những gì, mà rốt ráo có được bao nhiêu? Thật có thể khoái lạc được bao lâu?

40. Nấu nước đường

Ngày xưa có một người tên là A Tài, chuyên nghề nấu đường. Có một hôm, trong nhà có một vị khách phú quý hiển đạt tới chơi, muốn đãi tốt người khách, A Tài vội vàng đi vào nhà bếp, thổi lửa lò lên, lấy đường đổ vào nổi và cho thêm ít nước, rồi bắt đầu nấu. A Tài hớn hở chuẩn bị lấy nước đường thượng hảo ra chiêu đãi khách. Một lát sau, nước đường nấu chín rồi, nhưng mà còn đang sôi sùng sục, trong chốc lát không thể nguội đi được. A Tài trong lúc gấp gáp lấy tới một cái quạt, rồi dùng hết sức quạt nồi nước đường. Càng quạt thì ngọn lửa dưới nồi nước càng bốc lên, nước đường trong nồi sôi sùng sục không ngớt. Nhưng mà A Tài trên trán đổ mồ hôi hột lại rán sức quạt, chỉ muốn cho nước đường mau nguội mà thôi. Người ngoài thấy thế, nhịn không được ôm bụng cười to rồi chê: “A Tài ngu si. Lửa dưới nồi cháy như thế, có quạt cách mấy cũng không nguội được!” Viết lại theo 'Bách Dụ Kinh' Nguyên văn:  http://www.ctworld.org/sutra_stories/story040.htm Suy ngẫm. Lúc phiền ...

39. Bóng vàng dưới đáy nước

Có một thằng khùng đi tới bên hồ nước lớn, thấy trong nước có ảnh của vàng quý, miệng hô lên có vàng, rồi vội vã lội xuống nước tìm khắp. Nhưng tìm cách nào cũng không thấy dấu vàng. Thằng khùng gân cốt mệt mỏi, chỉ thất vọng leo lên bờ ngồi nghỉ. Nghỉ được một lát thì mặt nước hỗn trọc dần dần trong trở lại. mặt nước lại hiện ra ảnh vàng, thằng khùng vừa thấy, lại mừng rỡ lội xuống nước, rán tìm tiếp. Nhưng kết quả lại như cũ, không kiếm được gì. Cuối cùng thằng khùng tiu nghỉu trèo lại lên bờ, ngồi nhìn ảnh vàng trong nước mà rầu rĩ. Lúc ấy, cha nó đang tìm nó, thấy nó ra vẻ mệt mỏi, hỏi: “Con làm sao mà mệt mỏi thế?” Nó buồn bã đáp: “Dưới đáy nước có vàng, nhưng con lội vào tìm nửa ngày mà không thấy.” Người cha nhìn ảnh tượng vàng trong nước, thì biết có vàng trên cây bên bờ hồ, chứ không phải có trong nước. Cha nó bảo: “Vàng đó nhất định là do chim nó ngậm tới bỏ trên cây.” Thằng khùng nghe vậy, mừng rỡ trèo lên cây, quả thật thấy có vàng.