Skip to main content

54. Truyện Cưu Na La, Con Vua A Dục (phần 2)

Phía Bắc vương triều Khổng Tước có một nước tên là Đức Xoa Thi La, nước ấy có việc chống lại thánh dụ của vua A Dục. A Dục nghe chuyện, định đích thân sang nước ấy hỏi tội. Đại thần can: ‘Đại vương, không cần đại vương đích thân đi, chỉ cần phái Cưu Na La đi là được.’ A Dục hạ lệnh cho Cưu Na La đi sang Đức Xoa Thi La, Cưu Na La tuân lệnh. A Dục coi con như cõi lòng mình, lúc Cưu Na La sắp xuất hành, vua cảm động, nói kệ: ‘Ta nay nói cho mọi người nghe, Cưu Na La tuy là con nhưng ta coi như chính tâm mình. Vì tấm lòng này của ta mà chuẩn bị mọi sự cho đàng hoàng.’ (*)
Theo lệnh của A Dục phải sửa soạn đạo lộ cho nghiêm ngặt, người già, người bệnh, người chết không được xuất hiện trên đường đi của Cưu Na La, rồi vua đích thân tiễn Cưu Na La một đoạn đường. Hai cha con cùng ngồi một xe, lúc tiễn biệt, A Dục ôm cổ Cưu Na La, nhìn vào mắt con, khóc mà nói: ‘Người ta nhìn mắt con, thì trong lòng an vui, nếu có bệnh thì bệnh tiêu tan.’
Lúc ấy có một thầy tướng Ba La Môn nhìn thấy Cưu Na La chẳng bao lâu nữa sẽ mất đôi mắt, lại thấy vua A Dục chỉ thấy mắt con mà không hề thấy việc khác. Thấy tình cảnh đó thầy tướng mới nói kệ: ‘Con mắt của vương tử thanh tịnh, nhà vua nhìn thấy lòng an vui, ánh sáng đôi mắt ấy trang nghiêm, vì sao lại tắt? Dân chúng trong nước ấy nhìn thấy mắt Cưu Na La, ai cũng đều vui sướng như nghe thấy nhạc trời. Nếu thấy vương tử mất đôi mắt, ắt họ sẽ buồn khổ.’
Lúc Cưu Na La đi tới nước Đức Xoa Thi La, dân nước ấy nghe tin Cưu Na La sắp tới, cách hơn nửa do tuần đã bắt đầu sửa sang đạo lộ nghiêm chỉnh, dùng bình quý chứa nước mà tưới khắp nơi để đón đoàn người sắp tới. Dân nước ấy nói kệ: ‘Người nước Đức Xoa Thi La, dùng bình quý chứa đầy nước và các thứ cung dưỡng khác hoan nghênh Cưu Na La.’
Lúc Cưu Na La đến, dân chúng chắp tay nói: ‘Cung nghinh vương tử giá lâm, chúng tôi lỡ tranh đoạt, lại lỡ gây hiềm khích với vua A Dục. Chỉ do vị sứ thần đại vương phái tới nước chúng tôi là người không biết trị lí, không biết dùng đức mà hành chính, thỉnh cầu đại vương phế trừ ông ấy.’ Dân nước ấy dùng rất nhiều thứ lễ vật để nghinh đón Cưu Na La, quốc vương cũng theo đó mà hoan nghinh Cưu Na La vào nước.
Lúc ấy vua A Dục nhiễm trọng bệnh, miệng nôn uế tạp, lỗ chân lông cũng rỉ dịch nhớp. Tất cả lương y đều bó tay chịu thua, không tìm được cách đối trị. A Dục nói với các đại thần: ‘Triệu Cưu Na La hồi cung. Ta muốn rửa đầu cho nó để truyền vương vị. Việc tới nước này ta không còn tham luyến gì thân mệnh này nữa.’ Đệ nhất phu nhân Vi Sa Lạc Khởi Đa nghe vua A Dục nói như vậy, trong lòng nghĩ thầm, nếu Cưu La Na kế thừa vương vị, mình chắc chịu tội chết. Bà ta nghĩ tới nghĩ lui rồi nói với A Dục: ‘Tôi có cách trị được bệnh của đại vương. Đại vương không cần mời các vị y sư kia vào cung nữa.’ A Dục nghe đệ nhất phu nhân nói xong, bèn lệnh cho tất cả y sư ra về. Đệ nhất phu nhân nói với các vị lương y ấy: ‘Các ông nếu biết có người bị bệnh giống đại vương, hãy đưa về gặp ta.’
Lúc ấy nước A Bì La có một người bệnh, bệnh trạng hoàn toàn giống vua A Dục, vợ người bệnh ấy đi tìm y sư trị bệnh, kể rõ bệnh trạng của chồng cho y sư. Y sư nói với bà: ‘Mang người bệnh tới, ta trực tiếp chẩn đoán bệnh chứng xong sẽ kê thuốc.’ Người vợ nghe theo, đem chồng tới chỗ y sư, y sư liền đưa người bệnh vào cho đệ nhất phu nhân. Phu nhân đưa người bệnh ấy tới chỗ không có ai biết, sai người mổ khoang bụng, bê sinh tạng và thục tạng ra (生臟與熟臟). Phát hiện trong thục tạng (熟臟) có loài trùng to, trùng bò lên trên thì uế tạp nôn ra miệng, trùng bò xuống dưới thì uế tạp cũng theo nó mà bài xuất. Trùng bò qua trái, qua phải thì mọi thứ dịch nhớp rỉ thấm qua lỗ chân lông. Phu nhân lấy ma-lê-già vị cay, tán bột rồi đặt cạnh trùng độc, trùng không chết. Lấy quả tất-bát-lê đặt cạnh trùng, trùng cũng không chết. Lấy can khương đặt cạnh trùng, trùng không chết. Cuối cùng, dùng tỏi bỏ bên cạnh trùng, thì nó chết liền. Phu nhân đem chuyện đó nói với A Dục: ‘Đại vương, người cần phải ăn tỏi, bệnh sẽ lành.’ A Dục đáp: ‘Ta dòng dõi Sát Lợi quý tộc, không ăn tỏi được.’
Phu nhân lại nói: ‘Đại vương, ăn là để bảo toàn thân mệnh, người nên dùng thuốc.’ Nghe phu nhân khuyến khích, A Dục lấy tỏi làm thuốc và ăn. Ăn xong thì trùng độc chết và bệnh khỏi. Thân thể A Dục lại an khang như cũ.
Vua A Dục tắm rửa sạch sẽ xong, nói với phu nhân: ‘Bà có tâm nguyện chi không? Muốn gì ta đều cho mãn nguyện.’ Phu nhân nói: ‘Xin đại vương cho thiếp làm vua bảy ngày.’ A Dục đáp: ‘Cho bà làm vua, bà giết ta mất.’ Phu nhân nói: ‘Thiếp chỉ làm vua bảy ngày, xong bảy ngày nhất định trả lại vương vị.’ A Dục bèn đáp ứng thỉnh cầu của phu nhân. Phu nhân bụng nghĩ: ‘Giờ là lúc ta trị tội Cưu Na La.’
---
(*) Kệ văn như sau 我於今者,聞其此言,雖為是兒,而是我心,以心念故,倍加莊嚴. Ngã vu kim giả, văn kì thử ngôn, tuy vi thị nhi, nhi thị ngã tâm, dĩ tâm niệm cố, bội gia trang nghiêm.
Hai câu ‘dĩ tâm niệm cố, bội gia trang nghiêm’ tôi đoán mà dịch vậy thôi chứ không dám quyết dịch đúng ý.

Comments

Popular Posts

58. Vợ Chồng Trưởng Giả Tạo Tác Phù Đồ Sau Sanh Lên Trời

Truyện 58. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 5  Nước Xá-vệ có vị trưởng giả hay xây phù đồ và tăng phường, trưởng giả bị bệnh, mệnh chung sanh lên cõi trời Tam Thập Tam. Người vợ thương nhớ chồng, sầu ưu khổ não, vì thương nhớ nên giữ gìn phù đồ và tăng phường như lúc chồng còn sống. Người chồng ở trên trời tự quán sát, “Mình nhờ nhân duyên chi sanh lên cõi trời này?” Biết là nhờ công đức tạo tác tháp tự mà đắc sanh lên trời. Thấy thân mình là thân nhà trời, tâm sanh hoan hỉ, thường niệm tháp tự. Dùng thiên nhãn xem tháp tự của mình tạo nay ai chăm. Liền thấy vợ mình ngày đêm nhớ chồng, ưu sầu khổ não, lại vì chồng mà tu trị tháp tự. Người chồng niệm, “Vợ mình đối với mình có công đức rất lớn, nay phải xuống đó hỏi thăm an ủi.”  Liền từ trời giáng xuống bên vợ, nói vợ: “Em ưu sầu quá, do trong lòng nhớ anh.” Vợ hỏi, “Ông là ai mà khuyến gián tôi.” Đáp, “Anh là chồng em đây, nhờ nhân duyên xây tăng phường và tháp tự mà đắc sanh lên trời Tam Thập Tam, thấy em tinh cần chăm sóc tháp tự nên...

82. Phật Nói Cho Chúng Tì-khâu Biết Tai Hoạn Của Lợi Dưỡng

Truyện 82. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 7  Lúc đó Như Lai ở nước Xá-vệ, chán lợi dưỡng. Có một khu rừng sâu tên là Tham Trang Nghiêm, Ngài tránh nạn lợi dưỡng nên đi vào rừng ấy. Trong rừng có chùa, có vị la-hán tên Na-dặc-ca làm tự chủ. Phật tới rừng ấy thì hôm sau nhiều người đem áo tới cúng dường, chật cả khu rừng. Phật nói: “Ta không dùng lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng thường theo ta.” Có một vạn hai ngàn tì-khâu cũng tới chỗ đó. Phật nói chư tì-khâu: “Lợi dưỡng là thứ đại tai hại, thường gây chướng nạn, tới cả la-hán cũng bị lợi dưỡng gây chướng nạn.” Tì-khâu hỏi: “Gây những chướng nạn chi?” Phật đáp: “Lợi dưỡng có những cái hại sau: phá bì, phá nhục, phá cốt, phá tuỷ. Phá như thế nào? Phá da trì giới, thịt thiền định, xương trí tuệ, và tủy thiện tâm vi diệu.” Chư tì-khâu một vạn hai ngàn người đều gom tam y lục vật hành a-luyện-nhã, không lấy thêm vật chi khác. Phật liền tán thán: “Thiện tai, thiện tai! Biết hành trì phép a-luyện-nhã. Phép này của ta là phép thiểu dục, chẳng phải đa d...

55. Xá-lợi-phất Đi Thăm Phật Duy-vệ

Dụ 55. Cựu Tạp Thí Dụ Kinh văn 昔佛遣舍利弗,西至維衛莊嚴剎土,問訊彼佛三事:「佛身安隱不?說法如常不?受者增進不?」舍利弗即承佛威神往詣彼剎,宣令如是。彼佛報言:「皆悉安隱。」於時彼佛轉阿惟越致輪,為七住菩薩說法,舍利弗聞之,從彼剎還,姿色光明行步勝常。佛告舍利弗:「汝到彼,何故侅步怡悅如是。」舍利弗白佛言:「譬如貧家飢凍之人得大珍寶如須彌山,寧歡喜不?」佛言:「甚善!」舍利弗言:「我到彼剎,得聞彼佛說阿惟越致深奧之事,是以欣踊不能自勝。」佛言:「善哉!如汝所言。」佛語舍利弗:「譬如長者大迦羅越,純以紫磨金、摩尼珠為寶,內有掃除銅鐵鉛錫 棄在於外糞壤之中,有貧匱者喜得持歸,言我大得迦羅越寶,寧是長者珍妙寶非?」答言:「非也。」佛語舍利弗:「汝所聞得,如是貧者,彼佛所說但十住事及在舉中清淨之者 ,汝所聞者不足言耳。」舍利弗即愁毒,如言我謂得寶,反是鉛錫。舍利弗說是事時,無央數人皆發無上平等度意,無央數人得阿惟顏住也。 Âm  Tích Phật khiển Xá-lợi-phất, tây chí Duy-vệ trang nghiêm sát thổ, vấn tấn bỉ Phật tam sự, ‘Phật thân an ẩn bất? Thuyết pháp như thường bất? Thụ giả tăng tiến bất?’ Xá-lợi-phất tức thừa Phật uy thần vãng nghệ bỉ sát, tuyên lệnh như thị. Bỉ Phật báo ngôn giai tất an ẩn. Ư thời bỉ Phật chuyển a-duy-việt-trí luân, vi thất trụ bồ-tát thuyết pháp, Xá-lợi-phất văn chi, tòng bỉ sát hoàn, tư sắc quang minh hành bộ thắng thường. Phật cáo Xá-lợi-phất, ‘Nhữ đáo bỉ, hà cố ? bộ di duyệt như thị?’ Xá-lợi-phất bạch Phật ngôn, ‘Thí như bần gia cơ đống chi nhân đắc đại trân...

110. Đứa Con Bất Hiếu Chịu Khổ Báo

Truyện 110. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa thôn Cưu-đà-phiến ở nước Già-mặc có bà mẹ già chỉ có đứa con trai một. Đứa con ấy bột nghịch, không tu nhân hiếu, vì tức mẹ mình mà thẳng tay đánh mẹ một trận. Cùng hôm đó nó ra ngoài, giữa đường gặp cướp, bị cướp chặt đứt một cánh tay. Tội bất hiếu quả báo hiện tiền tức thì, khổ thống như vậy. Sau chịu khổ địa ngục kể không xiết. Văn    雜寶藏經第9卷 https://tripitaka.cbeta.org