Skip to main content

Phẩm X. Phóng Dật (放逸)

放逸品者,引律戒情,防邪撿失,以道勸賢。

Song yếu phẩm giả, dẫn luật giới tình, phòng tà kiểm thất, dĩ đạo khuyến hiền.

Đại ý của phẩm Phóng Dật là khuyên hành giả rán giữ đạo lành, thực hành giới luật tinh nghiêm để, tiết chế tình dục của mình, phòng hộ không để tà ý lọt vào tâm, không để tâm rơi vào chỗ phóng túng. Phẩm này có 20 kệ.

Nghĩa

Kinh văn và phiên âm

1. Giới là đường an lành, buông thả là đường chết, không tham dục thì không chết, đánh mất thiện căn là tự đào mồ chôn mình.

2. Người có trí tuệ ôm lấy đạo thù thắng, rốt cục không rơi vào nẻo buông thả, không để lòng nơi tham dục chính là nguồn hoan hỉ, theo được đường đi ấy sẽ được đạo an lạc.

3. Luôn tư duy điều ngay thẳng, dám giữ lấy đạo chính trực, người dũng mãnh như thế vượt ra khỏi thế tục và gặt được nhiều tốt đẹp hơn hết thảy.

4. Giữ chánh niệm thì lòng thường sáng rỡ, hướng tới chỗ cao thượng, hành vi thanh tịnh thì tội ác mau tiêu diệt, nhiếp tâm khống chế lòng dục và lấy đó làm sự nghiệp trên đường tu đạo, quyết không sai phạm thì tiếng lành ngày một bay xa.

5. Phát tâm giữ hạnh lành, không buông thả, tự hứa với lòng mình sẽ điều tâm, có trí tuệ như vậy thì có sức tạo được an tĩnh và sáng suốt trong tâm, người như thế quyết không trở lại vào chốn u minh.

6. Kẻ ngu tâm ý hồ đồ hôn ám, đầy dẫy tham loạn và ưa tranh tụng; kẻ thượng trí thường thận trọng, hộ trì tâm ý như nhà giàu giữ của.

7. Chớ tham lam, chớ ưa tranh tụng, cũng đừng ham mê dục lạc, giữ lòng chớ buông thả, như vậy mới thấu được niềm vui lớn.

8. Đứng trước cám dỗ buông thả mà tự cấm lòng mình được thì có thể trừ bỏ đường dữ làm thánh hiền, cũng như người lên trên lầu trí tuệ, chắc chắn thoát khỏi mọi ách nạn, sẽ yên ổn vĩnh viễn.

9. Người có trí tuệ thông suốt với người ngu tối tăm, ví như lên núi cao nhìn xuống đất bằng; ở trong mê loạn mà thân hành ngay thẳng, một mình giác ngộ chân lí, người như vậy có sức mạnh hơn cả sư tử vì đã dứt ác để làm bậc đại trí.

10. Đắm chìm trong hôn ám nặng như núi, bị nghi ngại tối tăm che khuất tâm trí, chỉ biết ngủ kĩ mà không thấy cái khổ nó nhận chìm mình, người như vậy cứ ra vào bào thai mãi.

11. Người nào không phóng túng làm càn có thể chế ngự được những lậu hoặc và dứt được đường sinh tử; phóng túng buông thả thì ma được việc của nó, như sư tử vồ bắt nai dễ dàng.

12. Người nào không phóng túng buông thả, người ấy chính là tì-khưu giữ giới; niệm tâm ngay thẳng và thanh tịnh, ấy là hộ trì tâm mình.

13. Người tu hành phải cẩn thận đừng vướng vào dục lạc, vì phóng túng theo dục lạc thường đưa lại nhiều ưu não và tội ác, khiến cho mình vướng vào những hệ lụy, những cạnh tranh từ vặt vãnh cho tới lớn lao, tích nhiều ác nghiệp để rồi phải đọa hỏa ngục.

14. Giữ giới hưởng nhiều phước lành, phạm giới tâm sợ hãi; người nào có sức cắt đứt được phiền não của tam giới thì đã gần kề niết-bàn.

15. Trước phóng dật mà sau chế ngự được, người đó là ánh sáng chiếu soi thế gian, được như vậy là nhờ người ấy đã lấy chánh niệm làm chỗ an trụ cho sự hành trì của mình.

16. Trước buông thả làm ác mà sau quay đầu phục thiện, người đó là ánh sáng chiếu soi thế gian, được như vậy là nhờ người ấy đã lấy thiện niệm làm chỗ an trụ cho sự hành trì của mình.

17. Nhỏ tuổi đã từ bỏ nhà cửa, dũng mãnh cầu đạo giác ngộ, người đó là ánh sáng chiếu soi thế gian, như mặt trăng ra khỏi mây mù;

18. Trước theo đường ác mà sau biết chỗ dừng dứt trọn đường ác, người đó là ánh sáng chiếu soi thế gian, như mặt trăng ra khỏi mây mù.

19. [[1] Khi sống không não hại người thì khi chết không phải lo sợ, nếu thấu suốt được đạo ấy thì nên sống cho hợp, chớ lo lắng.]

20. [Dứt hết mọi hành vi ô nhiễm và đen tối, chỉ hành trì đường trong sạch, lương thiện thì có thể qua khỏi vực sâu mà không phải quay trở lại; dẹp bỏ mọi chỗ nương nhờ và tu hành chỉ quán thì không phải bị trói buộc trong vòng khoái lạc; dứt hết ái dục sẽ đạt tới cõi vô ưu.]

1. 戒為甘露道,  放逸為死徑,

 不貪則不死,  失道為自喪;

Gii vi cam l đo, phóng dt vi t kính, bt tham tc bt t, tht đo vi t táng;

2. 慧智守道勝,  終不為放逸,

 不貪致歡喜,  從是得道樂。

Tu trí th đo thng, chung bt vi phóng dt, bt tham trí hoan h, tòng th đc đo lc.

3. 常當惟念道,  自強守正行,

 健者得度世,  吉祥無有上。

Thường đương duy nim đo, t cường th chánh hành, kin gi đc đ thế, cát tường vô hu thượng.

4. 正念常興起,  行淨惡易滅,

 自制以法壽,  不犯善名增。

Chánh nim thường hưng khi, hành tnh ác d dit, t chế dĩ pháp th, bt phm thin danh tăng.

5. 發行不放逸,  約以自調心,

 慧能作定明,  不返冥淵中。

Phát hành bt phóng dt, ước dĩ t điu tâm, tu năng tác đnh minh, bt phn minh uyên trung.

6. 愚人意難解,  貪亂好諍訟,

 上智常重慎,  護斯為寶尊。

Ngu nhân ý nan gii, tham lon hiếu tránh tng, thượng trí thường trng thn, h tư vi bo tôn.

7. 莫貪、莫好諍、  亦莫嗜欲樂, 思心不放逸,  可以獲大安。

Mc tham, mc hiếu tránh, dic mc th dc lc, tư tâm bt phóng dt, kh dĩ hoch đi an.

8. 放逸如自禁,  能卻之為賢,

 已昇智慧閣,  去危為即安。

Phóng dt như t cm, năng khước chi vi hin, dĩ thăng trí tu các, kh nguy vi tc an.

9. 明智觀於愚,  譬如山與地,

 居亂而身正,  彼為獨覺悟,

 是力過師子,  棄惡為大智。

Minh trí quan vu ngu, thí như san d đa, cư lon nhi thân chánh, b vi đc giác ng, th lc quá sư t, khí ác vi đi trí.

10. 睡眠重若山,  癡冥為所弊, 安臥不計苦,  是以常受胎。

Thy miên trng nhược san, si minh vi s t, an nga bt kế kh, th dĩ thường th thai.

11. 不為時自恣,  能制漏得盡, 自恣魔得便,  如師子搏鹿。

Bt vi thì t t, năng chế lu đc tn, t t ma đc tin, như sư t bác lc.

12. 能不自恣者,  是為戒比丘, 彼思正淨者,  常當自護心。

Năng bt t t gi, th vi gii tỉ-khưu, b tư chánh tnh gi, thường đương t h tâm.

13. 比丘謹慎樂,  放逸多憂愆, 變諍小致大,  積惡入火焰。

Tỉ-khưu cn thn lc, phóng dt đa ưu khiên, biến tránh tiu trí đi, tích ác nhp ha dim.

14. 守戒福致善,  犯戒有懼心, 能斷三界漏,  此乃近泥洹。

Th gii phúc trí thin, phm gii hu c tâm, năng đon tam gii lu, th nãi cn nê hoàn.

15. 若前放逸,  後能自禁,  是炤世間, 念定其宜;  

Nhược tin phóng dt, hu năng t cm, th chiếu thế gian, nim đnh kì nghi;

16. 過失為惡,  追覆以善,

 是炤世間,  念善其宜;  

Quá tht vi ác, truy phúc dĩ thin, th chiếu thế gian, nim thin kì nghi;

17. 少壯捨家, 盛修佛教,  是炤世間,  如月雲消;

Thiu tráng xả gia, thnh tu Pht giáo, th chiếu thế gian, như nguyt vân tiêu;

18. 人前為惡,  後止不犯,  是炤世間, 如月雲消。  

Nhân tin vi ác, hu ch bt phm, th chiếu thế gian, như nguyt vân tiêu.

19. 生不施惱、  死而不慼,

 是見道悍,  應中勿憂。  

Sanh bt thi não, t nhi bt thích, th kiến đo hãn, ng trung vt ưu.

20. 斷濁黑法, 學惟清白,  度淵不反,  棄猗行止, 不復染樂,  欲斷無憂。

Đon trc hc pháp, hc duy thanh bch, đ uyên bt phn, khí y hành ch, bt phc nhim lc, dc đon vô ưu.



[1] Những cú đặt trong ngoặc vuông không có trong kinh Pháp Cú Thí Dụ.

Comments

Popular Posts

58. Vợ Chồng Trưởng Giả Tạo Tác Phù Đồ Sau Sanh Lên Trời

Truyện 58. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 5  Nước Xá-vệ có vị trưởng giả hay xây phù đồ và tăng phường, trưởng giả bị bệnh, mệnh chung sanh lên cõi trời Tam Thập Tam. Người vợ thương nhớ chồng, sầu ưu khổ não, vì thương nhớ nên giữ gìn phù đồ và tăng phường như lúc chồng còn sống. Người chồng ở trên trời tự quán sát, “Mình nhờ nhân duyên chi sanh lên cõi trời này?” Biết là nhờ công đức tạo tác tháp tự mà đắc sanh lên trời. Thấy thân mình là thân nhà trời, tâm sanh hoan hỉ, thường niệm tháp tự. Dùng thiên nhãn xem tháp tự của mình tạo nay ai chăm. Liền thấy vợ mình ngày đêm nhớ chồng, ưu sầu khổ não, lại vì chồng mà tu trị tháp tự. Người chồng niệm, “Vợ mình đối với mình có công đức rất lớn, nay phải xuống đó hỏi thăm an ủi.”  Liền từ trời giáng xuống bên vợ, nói vợ: “Em ưu sầu quá, do trong lòng nhớ anh.” Vợ hỏi, “Ông là ai mà khuyến gián tôi.” Đáp, “Anh là chồng em đây, nhờ nhân duyên xây tăng phường và tháp tự mà đắc sanh lên trời Tam Thập Tam, thấy em tinh cần chăm sóc tháp tự nên...

82. Phật Nói Cho Chúng Tì-khâu Biết Tai Hoạn Của Lợi Dưỡng

Truyện 82. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 7  Lúc đó Như Lai ở nước Xá-vệ, chán lợi dưỡng. Có một khu rừng sâu tên là Tham Trang Nghiêm, Ngài tránh nạn lợi dưỡng nên đi vào rừng ấy. Trong rừng có chùa, có vị la-hán tên Na-dặc-ca làm tự chủ. Phật tới rừng ấy thì hôm sau nhiều người đem áo tới cúng dường, chật cả khu rừng. Phật nói: “Ta không dùng lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng thường theo ta.” Có một vạn hai ngàn tì-khâu cũng tới chỗ đó. Phật nói chư tì-khâu: “Lợi dưỡng là thứ đại tai hại, thường gây chướng nạn, tới cả la-hán cũng bị lợi dưỡng gây chướng nạn.” Tì-khâu hỏi: “Gây những chướng nạn chi?” Phật đáp: “Lợi dưỡng có những cái hại sau: phá bì, phá nhục, phá cốt, phá tuỷ. Phá như thế nào? Phá da trì giới, thịt thiền định, xương trí tuệ, và tủy thiện tâm vi diệu.” Chư tì-khâu một vạn hai ngàn người đều gom tam y lục vật hành a-luyện-nhã, không lấy thêm vật chi khác. Phật liền tán thán: “Thiện tai, thiện tai! Biết hành trì phép a-luyện-nhã. Phép này của ta là phép thiểu dục, chẳng phải đa d...

55. Xá-lợi-phất Đi Thăm Phật Duy-vệ

Dụ 55. Cựu Tạp Thí Dụ Kinh văn 昔佛遣舍利弗,西至維衛莊嚴剎土,問訊彼佛三事:「佛身安隱不?說法如常不?受者增進不?」舍利弗即承佛威神往詣彼剎,宣令如是。彼佛報言:「皆悉安隱。」於時彼佛轉阿惟越致輪,為七住菩薩說法,舍利弗聞之,從彼剎還,姿色光明行步勝常。佛告舍利弗:「汝到彼,何故侅步怡悅如是。」舍利弗白佛言:「譬如貧家飢凍之人得大珍寶如須彌山,寧歡喜不?」佛言:「甚善!」舍利弗言:「我到彼剎,得聞彼佛說阿惟越致深奧之事,是以欣踊不能自勝。」佛言:「善哉!如汝所言。」佛語舍利弗:「譬如長者大迦羅越,純以紫磨金、摩尼珠為寶,內有掃除銅鐵鉛錫 棄在於外糞壤之中,有貧匱者喜得持歸,言我大得迦羅越寶,寧是長者珍妙寶非?」答言:「非也。」佛語舍利弗:「汝所聞得,如是貧者,彼佛所說但十住事及在舉中清淨之者 ,汝所聞者不足言耳。」舍利弗即愁毒,如言我謂得寶,反是鉛錫。舍利弗說是事時,無央數人皆發無上平等度意,無央數人得阿惟顏住也。 Âm  Tích Phật khiển Xá-lợi-phất, tây chí Duy-vệ trang nghiêm sát thổ, vấn tấn bỉ Phật tam sự, ‘Phật thân an ẩn bất? Thuyết pháp như thường bất? Thụ giả tăng tiến bất?’ Xá-lợi-phất tức thừa Phật uy thần vãng nghệ bỉ sát, tuyên lệnh như thị. Bỉ Phật báo ngôn giai tất an ẩn. Ư thời bỉ Phật chuyển a-duy-việt-trí luân, vi thất trụ bồ-tát thuyết pháp, Xá-lợi-phất văn chi, tòng bỉ sát hoàn, tư sắc quang minh hành bộ thắng thường. Phật cáo Xá-lợi-phất, ‘Nhữ đáo bỉ, hà cố ? bộ di duyệt như thị?’ Xá-lợi-phất bạch Phật ngôn, ‘Thí như bần gia cơ đống chi nhân đắc đại trân...

110. Đứa Con Bất Hiếu Chịu Khổ Báo

Truyện 110. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa thôn Cưu-đà-phiến ở nước Già-mặc có bà mẹ già chỉ có đứa con trai một. Đứa con ấy bột nghịch, không tu nhân hiếu, vì tức mẹ mình mà thẳng tay đánh mẹ một trận. Cùng hôm đó nó ra ngoài, giữa đường gặp cướp, bị cướp chặt đứt một cánh tay. Tội bất hiếu quả báo hiện tiền tức thì, khổ thống như vậy. Sau chịu khổ địa ngục kể không xiết. Văn    雜寶藏經第9卷 https://tripitaka.cbeta.org