Skip to main content

9. Tượng Vương Dụ (Tạp Thí Dụ Kinh T0205)

Tạp Thí Dụ Kinh. Dụ 9

Xưa Tuyết Sơn có bạch tượng vương, thân có sáu ngà, sinh hai vạn voi con. Tượng vương có hai vợ, một vợ lớn tuổi, một vợ ít tuổi, mỗi khi đi chơi đều có hai vợ đi hai bên. Một hôm vua đi chơi, đường ngang qua một cây lớn có hoa tươi tốt, muốn hái hoa rải trên thân hai vợ cho đẹp. Vua lấy vòi quấn lấy cây rồi lay, gió thổi hoa rớt xuống trên vợ lớn, vợ bé ở dưới gió không đón được hoa, cho là vua có lòng yêu riêng, trong lòng sinh uất độc. Sau đó ít bữa trong hồ ngự uyển có mọc một cây liên hoa kim sắc ngàn lá, voi con thấy, ngắt đem dâng vua. Vua lấy hoa đem tặng cho đại phu nhân gắn lên đầu. Tiểu phu nhân càng ghen tị thêm, sinh ý định hãm hại vua.
Trong tuyết san có nhiều đạo sĩ. Vì thế tiểu phu nhân hái nhiều quả ngon nhưng chỉ cung dưỡng các vị Bích-chi Phật. Rồi ra sau núi trèo lên chỗ hiểm, thề độc rằng, ‘Lấy phúc báo lâu nay cúng thí Bích-chi Phật sinh vào loài người, nhà hào thế, tự biết túc mệnh, thề hại sát tên tượng vương này.’ Thề xong gieo thân xuống núi mà chết.
Thần thức sinh vào nhân gian làm con gái một nhà trưởng giả, minh tuệ uyên bác, đẹp không ai bằng. Người con gái ấy lớn lên quốc vương lấy làm phu nhân, rất sủng mộ. Phu nhân niệm rằng, ‘Nay chính là lúc báo oán đời trước.’ Rồi lấy bột chi tử bôi vàng mặt mày, giả nằm xưng bệnh. Vua vô hỏi thăm thì đáp, ‘Đêm qua thiếp mơ thấy voi đầu có sáu ngà. Muốn lấy ngà voi đó làm hoa tai. Nếu vua không lấy được ngà của voi ấy thì thiếp bệnh ngày càng nặng.’ Vua nặng lòng yêu phu nhân không dám trái ý, bèn triệu thợ săn trong nước lại được mấy trăm người rồi bảo họ, ‘Trong núi bọn khanh có bao giờ thấy voi trắng trên thân có sáu ngà chưa?’ Họ đều đáp chưa từng thấy. Vua trong lòng không vui, nên nói phu nhân gọi thợ săn vô mà tự bàn với nhau. Phu nhân nói, ‘Ở quanh đây đúng là không có voi ấy. Trong các ông ai là người chịu khổ và gan dạ nhất?’ Có một người bái rập, đáp, ‘Thần có khả năng nhất.’ Phu nhân ban cho một vạn lượng vàng, móc câu sắt, rìu búa và một bộ pháp y, bảo, ‘Ông đi đường bộ tới Tuyết San, tới chỗ có nhiều cổ thụ hai bên đường có mãng xà thân dài mấy trăm trượng, chớ có lại gần đó. Dùng rìu búa phạt cây mở lối mà đi. Đi tiếp sẽ gặp dòng sông lớn, có cây mọc lấn ra sông, dùng móc câu leo lên cây đó, men theo cành qua sông là tới được chỗ voi ở. Nhìn kĩ sẽ thấy chỗ nó thường nghỉ chân, ở đó ông đào một cái hố, trên che cành lá mỏng. Núp trong hố mà chờ, voi tới dùng mũi tên bắn nó. Xong mặc ca-sa vô như thầy sa-môn, voi ấy thờ tam tôn sẽ không hại ông.’
Thợ săn lĩnh giáo lặn lội ra đi. Bảy năm bảy tháng bảy ngày thì tới được chỗ voi ở, đào cái hố rồi xuống núp. Lát sau tượng vương về, thợ săn lấy tên độc bắn. Tượng vương bị trúng tên từ xa không tiến lại gần được, dùng khướu giác dò tìm xung quanh, thấy người dưới hố, hỏi là ai. Người kia sợ hãi thú rằng, ‘Tôi là người trúng tuyển mộ.’ Tượng vương liền biết chuyện này do phu nhân mà ra, tự bẻ gãy ngà đưa cho thợ săn rồi nói, ‘Ông về đi, đàn voi mà thấy ông sẽ hại ông. Nói đi thì đi ngay, đàn voi chắc chắn sẽ theo dấu vết mà truy ông.’ Tượng vương dùng uy thần hộ trì cho, bảy ngày thì ra khỏi bộ giới của loài voi. Về tới bổn quốc lấy ngà voi dâng phu nhân. Phu nhân cầm ngà voi, lật lên lật xuống nhìn, vừa hả dạ vừa hối hận, chẳng mấy chốc thổ huyết mà chết.
Hồi Phật Thích-ca-văn còn tại thế, một hôm cùng thiên, long, quỷ thần và tứ bối đệ tử cử đại hội thuyết pháp. Trong chúng tọa có một đại tì-khâu-ni ở từ xa nhìn ngắm Phật, phá lên cười, lát sau lại òa lên khóc. Chúng tọa không ai không lấy làm quái. A-nan hỏi Phật, ‘Vì sao tì-khâu-ni ấy đã đắc La-hán cớ chi vừa buồn vừa vui không tự chủ được như vậy? Xin Thế Tôn nói cho nghe.’ Phật cáo A-nan, ‘Bạch tượng lúc ấy chính là thân ta, đại phu nhân nay là Cù-di, tiểu phu nhân chính là vị tì-khâu-ni này. Nhờ đắc thần thông nên biết chuyện quá khứ, buồn khóc vì hồi trước không dụng tâm ở chỗ lành, vui phá lên cười là vì hãm hại thiện nhân sau lại theo thiện nhân đó mà đắc đạo.’
Chúng hội nghe thế đều niệm rằng, ‘Gây ác duyên với Thế Tôn còn được đắc độ, huống chi là có thiện duyên với Phật?’ Nhất thiết chúng hội đều phát tâm cầu đạo vô thượng chính đẳng chính giác, nguyện đi thập phương quảng độ chúng sinh.
Văn
昔雪山有白象王,身有六牙,生二萬象。象王有二夫人,一人年長、一人年少,每出遊戲時夫人挾左右。時王出戲,道過一大樹,樹花茂好,欲取二夫人身上以為光飾。鼻絞樹而搖逍之,風吹樹花獨落大夫人上,小夫人在下風不得華,謂王為有偏意,內生毒心。後王池中生一金色千葉蓮花,小象見之取持上王,王得以與大夫人使著頭上;小夫人遂益妬忿,念欲害王。
雪山中多有道士,於是小夫人採取美果每供養百辟支佛,以後山上臨一嶮處而自誓願:「持是前後施辟支佛福報生於人中,有豪勢、自識宿命,害殺此象王。」即便放身自投山下而死。
神來生人間,為長者女,明慧遠識端正無比。其女長大,國王聘為夫人,愛重之。夫人念言:「今真得報宿怨矣!」便以梔子黃面委臥稱病。王入問之,答曰:「夜夢見象,頭有六牙,欲得其牙持作釵耳。王若不得此象牙者,病日篤矣!」王素重之不敢違意,即召國中諸射獵者得數百人,而告之言:「汝等山中頗見有白象身有六牙者不?」皆言:「未曾見也!」王意不樂。使夫人呼獵者共道此意。夫人言:「此間近處實無此象,汝眾中誰有能耐苦大膽者乎?」有一人長跪曰:「我最可矣!」於是夫人與萬兩金、與其鐵鉤斧鑿及法衣一具,告之:「汝徑詣雪山中,道當有大樹,左右有蟒,身長數百丈不可得近,斧鑿穿樹從中過去。前行當見大水,有樹木臨水上,取鐵鉤鉤上樹,尋枝進而前度至象所住。視其常可頓止處,當下作深坑薄覆其上,在中伺象來時,以箭射之。即著袈裟如沙門法,象奉三尊終不害汝。」
獵者受教即涉道去,七年七月七日到象所止處,作坑入其中。須臾象王還,獵者以毒箭射之,象被此箭不從遠來,便以鼻撈其邊地,見坑中人,即問:「何人?」其人大怖懼自首言:「我是應募人。」象王即知是夫人所為,自截其牙用與獵者。語人言:「汝還去,諸象見汝即當害卿,教却行去,群象必當尋迹追汝。」象王以威神將護,七日之中得出部界,還至本國以象牙與夫人。夫人得之反覆視之,且喜且悔,未幾吐血死近。
釋迦文佛在世時,天、龍、鬼神、四輩弟子大會說法,坐中有大比丘尼,遙瞻視佛便大聲笑,須臾復舉聲哭,眾坐中無不怪者。阿難問佛:「云何此比丘尼得阿羅漢,何因且悲且喜不能自勝?願聞其事。」佛告阿難:「爾時白象王者我身是,夫人者今瞿夷是,小夫人者今比丘尼是,以得神通識往昔事,所以悲者,不事心所喜,笑者,賊害善人更從得道。」眾會聞,皆念曰:「與世尊作惡因緣猶尚得度,況有道德之因緣乎!」一切眾會皆發無上正真道意,願及十方廣度一切。


Âm 
Tích tuyết san hữu bạch tượng vương, thân hữu lục nha, sanh nhị vạn tượng. Tượng vương hữu nhị phu nhân, nhất nhân niên trưởng, nhất nhân niên thiếu. Mỗi xuất du hí thời phu nhân hiệp tả hữu. Thời vương xuất hí, đạo quá nhất đại thụ, thụ hoa mậu hảo, dục thủ nhị phu nhân thân thượng dĩ vi quang sức. Tị giảo thụ nhi diêu tiêu chi, phong xuy thụ hoa độc lạc đại phu nhân thượng, tiểu phu nhân tại hạ phong bất đắc hoa, vị vương vi hữu thiên ý, nội sanh độc tâm. Hậu vương trì trung sanh nhất kim sắc thiên diệp liên hoa, tiểu tượng kiến chi thủ trì thượng vương, vương đắc dĩ dữ đại phu nhân sử trứ đầu thượng. Tiểu phu nhân toại ích đố phẫn, niệm dục hại vương. 
Tuyết san trung đa hữu đạo sĩ, vu thị tiểu phu nhân thải thủ mĩ quả mỗi cung dưỡng bách Bích-chi Phật, dĩ hậu san thượng lâm nhất hiểm xử nhi tự thệ nguyện, ‘Trì thị tiền hậu thi Bích-chi Phật phúc báo sanh vu nhân trung, hữu hào thế, tự thức túc mệnh, hại sát thử tượng vương.’ Tức tiện phóng thân tự đầu san hạ nhi tử. 
Thần lai sanh nhân gian, vi trưởng giả nữ, minh tuệ viễn thức đoan chánh vô bỉ. Kì nữ trưởng đại, quốc vương sính vi phu nhân, ái trọng chi. Phu nhân niệm ngôn, ‘Kim chân đắc báo túc oán hĩ!’ Tiện dĩ chi tử hoàng diện ủy ngọa xưng bệnh. Vương nhập vấn chi, đáp viết, ‘Dạ mộng kiến tượng, đầu hữu lục nha, dục đắc kì nha trì tác sai nhĩ. Vương nhược bất đắc thử tượng nha giả, bệnh nhật đốc hĩ!’ Vương tố trọng chi bất cảm vi ý, tức triệu quốc trung chư xạ liệp giả đắc số bách nhân, nhi cáo chi ngôn, ‘Nhữ đẳng san trung pha kiến hữu bạch tượng thân hữu lục nha giả bất?’ Giai ngôn, ‘vị tằng kiến dã!’ Vương ý bất lạc. Sử phu nhân hô liệp giả cộng đạo thử ý. Phu nhân ngôn, ‘Thử gian cận xứ thật vô thử tượng, nhữ chúng trung thùy hữu năng nại khổ đại đảm giả hồ?’ Hữu nhất nhân trường quỵ viết, ‘Ngã tối khả hĩ!’ Ư thị phu nhân dữ vạn lưỡng kim, dữ kì thiết câu phủ tạc cập pháp y nhất cụ, cáo chi, ‘Nhữ kính nghệ tuyết san trung, đạo đương hữu đại thụ, tả hữu hữu mãng, thân trường sổ bách trượng bất khả đắc cận, phủ tạc xuyên thụ tòng trung quá khứ. Tiền hành đương kiến đại thủy, hữu thụ mộc lâm thủy thượng, thủ thiết câu câu thượng thụ, tầm chi tiến nhi tiền độ chí tượng sở trụ. Thị kì thường khả đốn chỉ xử, đương hạ tác thâm khanh bạc phúc kì thượng, tại trung tí tượng lai thì, dĩ tiễn xạ chi. Tức trứ ca-sa như sa-môn pháp, tượng phụng tam tôn chung bất hại nhữ.’ 
Liệp giả thụ giáo tức thiệp đạo khứ, thất niên thất nguyệt thất nhật đáo tượng sở chỉ xử, tác khanh nhập kì trung. tu du tượng vương hoàn, liệp giả dĩ độc tiến xạ chi, tượng bị thử tiến bất tòng viễn lai, tiện dĩ tị lao kì biên địa, kiến khanh trung nhân, tức vấn hà nhân. Kì nhân đại bố cụ tự thủ ngôn, ‘Ngã thị ứng mộ nhân.’ Tượng vương tức tri thị phu nhân sở vi, tự tiệt kì nha dụng dữ liệp giả. Ngứ nhân ngôn, ‘Nhữ hoàn khứ, chư tượng kiến nhữ tức đương hại khanh, giáo tức hành khứ, quần tượng tất đương tầm tích truy nhữ.’ Tượng vương dĩ uy thần tương hộ, thất nhật chi trung đắc xuất bộ giới, hoàn chí bổn quốc dĩ tượng nha dữ phu nhân. Phu nhân đắc chi phản phúc thị chi, thả hỉ thả hối, vị ki thổ huyết tử cận. 
Thích-già-văn Phật tại thế thời, thiên, long, quỷ thần, tứ bối đệ tử đại hội thuyết pháp, tọa trung hữu đại tì-khâu ni, diêu chiêm thị phật tiện đại thanh tiếu, tu du phục cử thanh khốc, chúng tọa trung vô bất quái giả. A-nan vấn Phật, ‘Vân hà thử tì-khâu-ni đắc a-la-hán, hà nhân thả bi thả hỉ bất năng tự thắng. Nguyện văn kì sự.’ Phật cáo A-nan, ‘Nhĩ thời bạch tượng vương giả ngã thân thị, phu nhân giả kim Cù-di thị, tiểu phu nhân giả kim tì-khâu-ni thị, dĩ đắc thần thông thức vãng tích sự, sở dĩ bi giả, bất sự tâm sở hỉ, tiếu giả, tặc hại thiện nhân cánh tòng đắc đạo.’ 
Chúng hội văn, giai niệm viết, ‘Dữ thế tôn tác ác nhân duyến do thượng đắc độ, huống hữu đạo đức chi nhân duyến hồ!’ Nhất thiết chúng hội giai phát vô thượng chánh chân đạo ý, nguyện cập thập phương quảng độ nhất thiết.

 
雜譬喻經

Comments

Popular Posts

58. Vợ Chồng Trưởng Giả Tạo Tác Phù Đồ Sau Sanh Lên Trời

Truyện 58. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 5  Nước Xá-vệ có vị trưởng giả hay xây phù đồ và tăng phường, trưởng giả bị bệnh, mệnh chung sanh lên cõi trời Tam Thập Tam. Người vợ thương nhớ chồng, sầu ưu khổ não, vì thương nhớ nên giữ gìn phù đồ và tăng phường như lúc chồng còn sống. Người chồng ở trên trời tự quán sát, “Mình nhờ nhân duyên chi sanh lên cõi trời này?” Biết là nhờ công đức tạo tác tháp tự mà đắc sanh lên trời. Thấy thân mình là thân nhà trời, tâm sanh hoan hỉ, thường niệm tháp tự. Dùng thiên nhãn xem tháp tự của mình tạo nay ai chăm. Liền thấy vợ mình ngày đêm nhớ chồng, ưu sầu khổ não, lại vì chồng mà tu trị tháp tự. Người chồng niệm, “Vợ mình đối với mình có công đức rất lớn, nay phải xuống đó hỏi thăm an ủi.”  Liền từ trời giáng xuống bên vợ, nói vợ: “Em ưu sầu quá, do trong lòng nhớ anh.” Vợ hỏi, “Ông là ai mà khuyến gián tôi.” Đáp, “Anh là chồng em đây, nhờ nhân duyên xây tăng phường và tháp tự mà đắc sanh lên trời Tam Thập Tam, thấy em tinh cần chăm sóc tháp tự nên...

108. Tế Thần Cây

Truyện 108. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa có ông già, nhà cự phú, rất thích ăn thịt nên bày cách dối gạt, chỉ một cây đầu ruộng nói bầy con rằng “Gia nghiệp ta sở dĩ hài hòa, phú túc là nhờ ân phúc thần cây này, nay các con nên bắt dê trong bầy để tế thần ấy.” Con ông ấy theo lời cha dạy liền giết dê cúng báo ơn cây ấy, dưới gốc cây còn lập am tế trời. Người cha về sau thọ tận mệnh chung, bị hành nghiệp truy bức, sanh về trong bây dê nhà mình. Gặp lúc con mình muốn tế thần cây nên bắt một con dê, bắt phải cha mình, đem đi định giết. Dê bèn cười be be mà nói rằng, “Cây này nào có thần linh. Ta thời trước do ham ăn thịt nên gạt các con tế cây, rồi cùng các con ăn thịt này. Nay đền tội ác, tự mình phải chịu trước tiên.” Lúc ấy có một la-hán đi tới khất thực, thấy người cha quá cố chịu thân dê, nên cho người con trưởng mượn đạo nhãn để tự quan sát, mới biết đó là cha mình, trong lòng ôm mối áo não, liền hủy thần cây, sám hối tội quá và bắt đầu tu phúc, chẳng còn sát sanh nữa. Văn ...

109. Người đàn bà chán dục xuất gia

Truyện 109. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa có người đàn bà đẹp tuyệt trần, xuất gia tu theo pháp của ngoại đạo. Có người nói, “Dung nhan như vậy thời ở tục chứ vì sao xuất gia?” Bà đáp, “Như tôi hôm nay không phải là không đẹp, chẳng qua mới đây chán ghét dâm dục nên xuất gia. Lúc tôi còn tại gia nhờ đẹp mà sớm có thân phận, còn trẻ đã sinh con trai. Con tôi lớn lên khôi ngô không ai bằng, tự nhiên hóa ra tiều tụy như người có bệnh. Tôi hỏi vì sao bệnh thời nó không chịu đáp, hỏi mãi không thôi nó bất đắc dĩ nói, “Con không nói là vì sợ không toàn mạng, chừ nói ra đây thời chẳng còn mặt mũi chi nữa.” Rồi nó nói, “Con muốn dâm dục với mẹ, vì không được nên sinh bệnh.” Mẹ liền nói, “Tự cổ chí kim đời nào có chuyện đó?” Rồi tự nhủ, “Nếu mình không chìu thời chết mất con, nay đành phải nghịch đạo mà giữ mạng nó.” Bèn kêu đứa con lại cho nó thỏa lòng dục. Đứa con kéo lên giường thời mặt đất nứt toác, nó đang sống rớt thẳng xuống dưới, tôi kinh bố quá, đưa tay ra kéo, bắt được tóc nó. T...

107. Cầu Làm Thiên Chủ

Truyện 107. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Ngày xưa có một bà-la-môn thờ Trời Ma-thất, ngày đêm phụng sự. Trời ấy hỏi, “Ông cầu chi?” Bà-la-môn đáp, “Tôi cầu làm chủ tế trời.” Trời nói, “Nhà kia có bầy trâu, ông tới hỏi con đi đầu đàn ấy.” Liền theo lời của trời, tới hỏi trâu ấy, “Ngươi nay lấy chi làm khổ, lấy chi làm sướng?” Trâu liền đáp, “Khổ cùng cực, hai bên sườn bị ép, củi nặng oằn lưng, kéo khung giá, chở xe nặng mà không được nghỉ.” Người ấy lại hỏi, “Ngươi vì nhân duyên chi mà chịu thân trâu này?” Trâu liền đáp, “Tôi trước làm thiên chủ, phóng túng làm xằng, xài xể đồ tế trời, mệnh chung làm trâu, chịu khổ não này.” Nghe lời ấy rồi liền trở về nhà trời. Trời hỏi, “Ông nay còn muốn làm thiên chủ nữa không?” Bà-la-môn đáp, “Tôi thấy việc đó, thật không dám làm thiên chủ.” Trời nói, “Người ta làm thiện ác thì tự mà chịu lấy quả báo của việc mình làm.” Bà-la-môn sám hối sai lầm của mình, quay về tu các thiện hạnh.   Văn    雜寶藏經第2卷 https://tripitaka.cbeta.org