Skip to main content

Chương I - X

1. Phật nói: “Lìa người thân, rời cuộc sống thế tục để tìm đạo thì gọi là sa-môn. Thường giữ hai trăm năm mươi giới, theo bốn phép chân thật cho tới khi tâm được thanh tịnh, thành A-la-hán. Bậc A-la-hán có thể bay lên không trung và có sức biến hóa, giữ mạng sống lâu và làm kinh động trời đất. Thứ đến là bậc A-na-hàm, hết thọ mạng thì hồn linh bay về cõi trời thứ mười chín và đắc A-la-hán tại đó; thứ đến là bậc Tư-đà-hàm, bậc Tư-đà-hàm còn một lần sinh lên cõi trên và một lần trở lại cõi trần thì đắc A-la-hán; thứ đến là Tu-đà-hoàn, bậc Tu-đà-hoàn thêm bảy lần chết và bảy lần sinh nữa sẽ đắc A-la-hán. Người đã trừ được lòng dục thì ví như đã chặt hết tay chân, không còn dùng trở lại nữa.”

佛言:「辭親出家為道,名曰沙門,常行二百五十戒,為四真道行,進志清淨,成阿羅漢。阿羅漢者,能飛行變化,住壽命,動天地;次為阿那含,阿那含者,壽終魂靈上十九天,於彼得阿羅漢;次為斯陀含,斯陀含者,一上一還,即得阿羅漢;次為須陀洹,須陀洹者,七死七生,便得阿羅漢;愛欲斷者,譬如四支斷,不復用之。」

Phật ngôn: “Từ thân xuất gia vị đạo, danh viết sa-môn, thường hành nhị bách ngũ thập giới, vị tứ chân đạo hành, tiến chí thanh tịnh, thành A-la-hán. A-la-hán giả, năng phi hành biến hóa, trụ thọ mệnh, động thiên địa; thứ vi A-na-hàm, A-na-hàm giả, thọ chung hồn linh thượng thập cửu thiên, ư bỉ đắc A-la-hán; thứ vi Tư-đà-hàm, Tư-đà-hàm giả, thất thượng nhất hoàn, tức đắc A-la-Hán; thứ vi Tu-đà-hoàn, Tu-đà-hoàn giả, thất tử thất sinh, tiện đắc A-la-hán; ái dục đoạn giả, thí như tứ chi đoạn, bất phục dụng chi.

3. Bụt nói: “Bỏ tóc cạo râu làm sa-môn, thọ nhận đạo pháp, bỏ hết của cải, chỉ xin cho đủ sống, ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới cây, cẩn thận canh phòng cho khỏi quay trở lại [lối sống cũ]! Cái khiến cho người ta ra tối tăm và xấu xa là mê đắm và dục vọng.”

佛言:「除鬚髮,為沙門,受道法,去世資財,乞求取足,日中一食,樹下一宿,慎不再矣!使人愚弊者,愛與欲也。」

Phật ngôn: “Trừ tu phát, vi sa-môn, thọ đạo pháp, khử thế tư tài, khất cầu thủ túc, nhật trung nhất thực, thụ hạ nhất túc. Thận bất tái hĩ! Sử nhân ngu tệ giả, ái dữ dục dã.

4. Bụt nói: “Chúng sinh có mười điều nếu làm được sẽ nên lành, nếu không làm được sẽ nên dữ. Mười điều ấy thân có ba, miệng có bốn và ý có ba. Ba điều ở thân là: giết sinh mạng, trộm cắp, tà dâm; bốn điều ở miệng là: nói lời tráo trở, chửi rủa, nói xằng bậy, nói thêu dệt; ba điều ở ý là: ghen tị, tức giận, và mù quáng, không tin ba bậc đáng tôn kính, và lấy điều tà vạy cho làm ngay thẳng. Người tại gia làm được năm điều mà không lười biếng thoái lui, tiến lên làm trọn mười điều

thì chắc chắn đạt đạo.”

佛言:「眾生以十事為善,亦以十事為惡。身三、口四、意三。身三者:殺、盜、婬;口四者:兩舌、惡罵、妄言、綺語;意三者:嫉、恚、癡,不信三尊,以邪為真。優婆塞行五事,不懈退,至十事,必得道也。」

Phật ngôn: “Chúng sinh dĩ thập sự vi thiện, diệc dĩ thập sự vi ác. Thân tam, khẩu tứ, ý tam. Thân tam giả: sát, đạo, dâm; khẩu tứ giả: lưỡng thiệt, ác mạ, vọng ngôn, khỉ ngữ; ý tam giả: tật, khuể, si, bất tín tam tôn, dĩ tà vi chân. Ưu-bà-tắc hành ngũ sự, bất giãi thoái, chí thập sự, tất đắc đạo dã.

5. Bụt nói: “Kẻ có nhiều tội lỗi mà không biết tự hối, không đình chỉ tâm gây tội thì tội quay trở lại thân như nước quy về biển cả, ngày một sâu rộng; có điều ác mà biết là ác, sửa mình làm lành thì tội ngày một tiêu diệt, sau cùng sẽ đắc đạo.”

佛言:「人有眾過,而不自悔,頓止其心,罪來歸身,猶水歸海,自成深廣矣;有惡知非,改過得善,罪日消滅,後會得道也。」

Phật ngôn: “Nhân hữu chúng quá, nhi bất tự hối, đốn chỉ kì tâm, tội lai quy thân, do thủy quy hải, tự thành thâm quảng hĩ; hữu ác tri phi, cải quá đắc thiện, tội nhật tiêu diệt, hậu hội đắc đạo dã.”

6. Bụt dạy: “Có người cáo buộc mình làm điều bất thiện thì mình hãy lấy từ tâm che chở cho người ấy; kẻ lấy ác ý đối với mình thì mình hãy lấy điều thiện đáp lại họ, phúc đức tất ở lại với mình mà nghiệp dữ sẽ trở lại với người kia.”

佛言:「人愚吾以為不善,吾以四等慈護濟之;重以惡來者,吾重以善往,福德之氣,常在此也;害氣重殃,反在于彼。」

Phật ngôn: “Nhân ngu ngô dĩ vi bất thiện, ngô dĩ tứ đẳng từ hộ tế chi; trọng dĩ ác lai giả, ngô trọng dĩ thiện vãng, phúc đức chi khí, thường tại thử dã; hại khí trọng ương phản tại vu bỉ.”

7. Có người nghe nói Bụt hành đại nhân từ, nhận hết mọi điều dữ về mình mà cho đi điều lành cho nên tìm tới thóa mạ Bụt. Bụt ngồi im không đáp, thương xót kẻ kia bị ngu si điên đảo sai sử. Đợi cho thóa mạ dứt Bụt mới hỏi: “Anh lấy lễ vật đem tặng người ta, người ta không nhận thì lễ vật đó như thế nào?” Người kia đáp: “Thì mình giữ lại.” “Nay anh nhục mạ tôi, tôi cũng không nhận thì anh tự giữ lại cho mình, đó là cái họa cho thân anh! Như tiếng vang ứng với âm thanh, ảnh đi theo hình không thể tách rời, [mọi sự đều có báo ứng]; anh nên răn mình chớ làm ác.”

有人聞佛道守大仁慈,以惡來,以善往,故來罵。佛默然不答,愍之癡冥狂愚使然。罵止,問曰:

「子以禮從人,其人不納,實禮如之乎?」曰:「持歸。」「今子罵我,我亦不納,子自持歸,禍子身矣!猶響應聲,影之追形,終無免離,慎為惡也。」

Hữu nhân văn Phật đạo thủ đại nhân từ, dĩ ác lai, dĩ thiện vãng, cố lai mạ. Phật mặc nhiên bất đáp, mẫn chi si minh cuồng ngu sử nhiên. Mạ chỉ, vấn viết: “Tử dĩ lễ tòng nhân, kì nhân bất nạp, thực lễ như chi hồ?” Viết: “Trì quy.” “Kim tử mạ ngã, ngã diệc bất nạp, tử tự trì quy, họa tử thân hĩ! Do hưởng ứng thanh, ảnh chi truy hình, chung vô miễn li, thận vi ác dã.”

8. Bụt dạy: “Kẻ dữ hại người hiền giống như ngước mặt lên trời nhổ nước bọt, nước bọt không làm bẩn trời mà rơi xuống làm bẩn mình; ngược gió tung bụi ném người, bụi không làm bẩn người mà bay trở lại làm bẩn mình. Người hiền không hại được mà mình thì bị họa diệt thân.

佛言:「惡人害賢者,猶仰天而唾,唾不污天,還污己身;逆風坋人,塵不污彼,還坋于身。賢者不可毀,禍必滅己也。」

Phật ngôn: “Ác nhân hại hiền giả, do ngưỡng thiên nhi thóa, thóa bất ô thiên, hoàn ô kỉ thân; nghịch phong ... nhân, trần bất ô bỉ, hoàn ... ư thân. Hiền giả bất khả hủy, họa tất diệt kỉ dã.”

9, 10. Bụt dạy: “Người cầu đạo cho dù vì thương người mà bố thí cũng chưa phải là cầu đại trí. Thủ chí phụng đạo phúc còn lớn hơn; thấy người hành đạo chân chính mà hoan hỉ giúp sức người ấy phúc cũng lớn. Có người hỏi lại: “Phúc ấy không bị giảm sao?” Phật đáp: “Cũng như cây đuốc thắp lửa, dù trăm ngàn người mỗi người cầm một cây đuốc tới thắp lửa rồi đi, lấy lửa đó nấu ăn, thắp sáng thì lửa kia vẫn như cũ. Phúc lành cũng như vậy.”

佛言:「夫人為道務博愛,博哀施德莫大施。守志奉道,其福甚大;睹人施道,助之歡喜,亦得福。」 質曰:「彼福不當減乎?」 佛言:「猶若炬火,數千百人,各以炬來,取其火去,熟食、除冥;彼火如故,福亦如之。」

Phật ngôn: “Phù nhân vị đạo vụ bác ái, bác ai thí mạc đại thí. Thủ chí phụng đạo, kì phúc thậm đại; đổ nhân thí đạo, trợ chi hoan hỉ, diệc đắc phúc báo.” Chất viết: “Bỉ phúc bất đương giảm hồ?” Phật ngôn: “Do nhược cự hỏa, sổ thiên bách nhân, các dĩ cự lai, thủ kì hỏa khứ, thục thực, trừ minh; bỉ hỏa như cố, phúc diệc như chi.”

Comments

Popular Posts

58. Vợ Chồng Trưởng Giả Tạo Tác Phù Đồ Sau Sanh Lên Trời

Truyện 58. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 5  Nước Xá-vệ có vị trưởng giả hay xây phù đồ và tăng phường, trưởng giả bị bệnh, mệnh chung sanh lên cõi trời Tam Thập Tam. Người vợ thương nhớ chồng, sầu ưu khổ não, vì thương nhớ nên giữ gìn phù đồ và tăng phường như lúc chồng còn sống. Người chồng ở trên trời tự quán sát, “Mình nhờ nhân duyên chi sanh lên cõi trời này?” Biết là nhờ công đức tạo tác tháp tự mà đắc sanh lên trời. Thấy thân mình là thân nhà trời, tâm sanh hoan hỉ, thường niệm tháp tự. Dùng thiên nhãn xem tháp tự của mình tạo nay ai chăm. Liền thấy vợ mình ngày đêm nhớ chồng, ưu sầu khổ não, lại vì chồng mà tu trị tháp tự. Người chồng niệm, “Vợ mình đối với mình có công đức rất lớn, nay phải xuống đó hỏi thăm an ủi.”  Liền từ trời giáng xuống bên vợ, nói vợ: “Em ưu sầu quá, do trong lòng nhớ anh.” Vợ hỏi, “Ông là ai mà khuyến gián tôi.” Đáp, “Anh là chồng em đây, nhờ nhân duyên xây tăng phường và tháp tự mà đắc sanh lên trời Tam Thập Tam, thấy em tinh cần chăm sóc tháp tự nên...

108. Tế Thần Cây

Truyện 108. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa có ông già, nhà cự phú, rất thích ăn thịt nên bày cách dối gạt, chỉ một cây đầu ruộng nói bầy con rằng “Gia nghiệp ta sở dĩ hài hòa, phú túc là nhờ ân phúc thần cây này, nay các con nên bắt dê trong bầy để tế thần ấy.” Con ông ấy theo lời cha dạy liền giết dê cúng báo ơn cây ấy, dưới gốc cây còn lập am tế trời. Người cha về sau thọ tận mệnh chung, bị hành nghiệp truy bức, sanh về trong bây dê nhà mình. Gặp lúc con mình muốn tế thần cây nên bắt một con dê, bắt phải cha mình, đem đi định giết. Dê bèn cười be be mà nói rằng, “Cây này nào có thần linh. Ta thời trước do ham ăn thịt nên gạt các con tế cây, rồi cùng các con ăn thịt này. Nay đền tội ác, tự mình phải chịu trước tiên.” Lúc ấy có một la-hán đi tới khất thực, thấy người cha quá cố chịu thân dê, nên cho người con trưởng mượn đạo nhãn để tự quan sát, mới biết đó là cha mình, trong lòng ôm mối áo não, liền hủy thần cây, sám hối tội quá và bắt đầu tu phúc, chẳng còn sát sanh nữa. Văn ...

109. Người đàn bà chán dục xuất gia

Truyện 109. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Xưa có người đàn bà đẹp tuyệt trần, xuất gia tu theo pháp của ngoại đạo. Có người nói, “Dung nhan như vậy thời ở tục chứ vì sao xuất gia?” Bà đáp, “Như tôi hôm nay không phải là không đẹp, chẳng qua mới đây chán ghét dâm dục nên xuất gia. Lúc tôi còn tại gia nhờ đẹp mà sớm có thân phận, còn trẻ đã sinh con trai. Con tôi lớn lên khôi ngô không ai bằng, tự nhiên hóa ra tiều tụy như người có bệnh. Tôi hỏi vì sao bệnh thời nó không chịu đáp, hỏi mãi không thôi nó bất đắc dĩ nói, “Con không nói là vì sợ không toàn mạng, chừ nói ra đây thời chẳng còn mặt mũi chi nữa.” Rồi nó nói, “Con muốn dâm dục với mẹ, vì không được nên sinh bệnh.” Mẹ liền nói, “Tự cổ chí kim đời nào có chuyện đó?” Rồi tự nhủ, “Nếu mình không chìu thời chết mất con, nay đành phải nghịch đạo mà giữ mạng nó.” Bèn kêu đứa con lại cho nó thỏa lòng dục. Đứa con kéo lên giường thời mặt đất nứt toác, nó đang sống rớt thẳng xuống dưới, tôi kinh bố quá, đưa tay ra kéo, bắt được tóc nó. T...

107. Cầu Làm Thiên Chủ

Truyện 107. Tạp Bảo Tạng Kinh Quyển 9.  Ngày xưa có một bà-la-môn thờ Trời Ma-thất, ngày đêm phụng sự. Trời ấy hỏi, “Ông cầu chi?” Bà-la-môn đáp, “Tôi cầu làm chủ tế trời.” Trời nói, “Nhà kia có bầy trâu, ông tới hỏi con đi đầu đàn ấy.” Liền theo lời của trời, tới hỏi trâu ấy, “Ngươi nay lấy chi làm khổ, lấy chi làm sướng?” Trâu liền đáp, “Khổ cùng cực, hai bên sườn bị ép, củi nặng oằn lưng, kéo khung giá, chở xe nặng mà không được nghỉ.” Người ấy lại hỏi, “Ngươi vì nhân duyên chi mà chịu thân trâu này?” Trâu liền đáp, “Tôi trước làm thiên chủ, phóng túng làm xằng, xài xể đồ tế trời, mệnh chung làm trâu, chịu khổ não này.” Nghe lời ấy rồi liền trở về nhà trời. Trời hỏi, “Ông nay còn muốn làm thiên chủ nữa không?” Bà-la-môn đáp, “Tôi thấy việc đó, thật không dám làm thiên chủ.” Trời nói, “Người ta làm thiện ác thì tự mà chịu lấy quả báo của việc mình làm.” Bà-la-môn sám hối sai lầm của mình, quay về tu các thiện hạnh.   Văn    雜寶藏經第2卷 https://tripitaka.cbeta.org