Skip to main content

Posts

Showing posts with the label Chữ nghĩa

Hắc chính Hán ngữ nhất tắc

Đọc một bài báo về đấu đá chính trị ở Trung Cộng mà có những từ ngữ và khái niệm này. Gom lại thành một kim chỉ nam của những người tìm sự nghiệp trong chế độ Trung Cộng như dưới. Trước hết đặt mục tiêu là 'kiếm một chỗ quyền lực cao nhất' 置身最高權力中心 /trí thân tối cao quyền lực trung tâm/. Xác định không có nhiều lựa chọn, phải định cái giá phải trả rồi chọn giữa 'cao cấp hắc' 高級黑 và 'đê cấp hồng' 低級紅, thà 'đen ở cao' còn hơn 'đỏ ở thấp'.  Sau khi đã ‘rót chén mác-lê uống vô là mê hồn’ 灌馬列主義迷魂湯 /quán Mã Liệt chủ nghĩa mê hồn thang/, biến thân mình thành cái máy tuyên truyền 宣傳機器 /tuyên truyền cơ khí/ thì kế đến là chọn phe, khoác cho mình một 'màu áo phe phái' 派系 色彩 /phái hệ sắc thái/. Muốn giật quyền lực về tay mình權力奪到手/quyền lực đoạt đáo thủ/ thì trước phải biết phục tòng, ghép vào sau đuôi kẻ khác mà làm người 夾著尾巴 做人 /giáp trước vĩ ba tố nhân/.  Lại còn phải biết chơi trò lúc thì tung người ta lên mây xanh, lúc thì đạp xuống dưới đất, ...

Hai điều tôi ghét nhất trong chữ Hán

Thứ nhất, là chữ giản thể. Chữ phồn thể có những quy tắc thành hình riêng, mà sang chữ giản thể thì mọi quy tắc đều mất hết, thành ra không phải chữ giản thể giúp cho người học dễ nhớ và nhớ lâu. Nó làm loạn trí nhớ người học thì đúng hơn. Một điểm nữa là nó xấu, nhìn chữ phồn thể thấy giống người đĩnh đạc, có đủ tứ chi, còn chữ phồn thể giống người què, không cụt tay thì cụt chân. Bởi vậy có ai chơi thư pháp mà viết chữ giản thể. Cái tệ nhất của chữ giản thể là nó làm vướng cuộc đời. Cộng sản Trung Quốc muốn tạo một thứ chữ dễ viết, dễ nhớ để phổ cập giáo dục. Chỉ có điều sách vở kinh điển đều chép bằng phồn thể, và người học muốn thành tài thâm sâu thì thường học tận gốc, họ sẽ học phồn thể, cũng như học văn ngôn văn chứ không chỉ dừng riêng ở bạch thoại. Chỉ những người hài lòng với học thức nông cạn mới dừng lại ở chữ giản thể. Cộng sản Trung Quốc muốn tạo dấu ấn trên lịch sử văn hóa Trung Hoa, nhưng mà động cơ của họ là động cơ quyền lực chứ không phải động cơ văn hóa; sản phẩm ...

Tôi học chữ Hán

Không nhớ mình bắt đầu học chữ Hán chính xác từ lúc nào, có lẽ cách đây năm sáu năm. Nhưng mà học kiểu lãng tử, thích thì học, không thích thì vác guitar đi chơi, có khi cách cả nửa năm không đụng một chữ, có khi hai ba tuần liền ngày nào cũng hí hoáy viết. Học thì kĩ, nhưng mà không có hệ thống, thành ra hai ba năm học gần hết quyển 'Tự Học Hán Văn' của Nguyễn Khuê mà không đọc được sách. Bạch thoại không đọc được thì dĩ nhiên là văn ngôn là mù tịt. Không học ngữ pháp thì làm sao đọc được bạch thoại, mà văn ngôn không học cho hệ thống thì làm sao đọc được cổ văn. Kiểu học ấy chỉ có lợi là giữ được nhiệt tình thôi. Nhưng dù sao thì cũng có được cái vốn chữ Hán khoảng một ngàn trở lại. Không hơn chút gì. Học mà nghiêm túc thì cách đây chắc khoảng ba năm, từ khi lập cái blog này. Cũng cuốn của Nguyễn Khuê, thêm Hán-Việt tự điển của Thiều Chửu bản điện tử, rồi bắt đầu tập đọc bạch thoại. Vẫn kiểu học mò mẫm ấy, sách ngữ pháp có nhiều mà không chịu đọc, nhưng rồi cũng vỡ nghĩa dần...

Nhân đọc một câu đối chữ Hán ở thôn quê

Hôm kia trú m ưa trong sân một nhà quê ở xã Phú Mậu, mình đọc được câu đối này. Mình thấy lạ là ngày nay ở dưới thôn quê còn rất ít người học và đọc được chữ Hán, thế mà ở các văn bia hay đối liễn người dân ở đó vẫn còn cho khắc bằng chữ Hán. Việc này hay hay dở mình không bàn đến, điều đáng làm là giáo dục lại tinh thần phục cổ để giữ lại những tinh hoa trong văn hóa Việt Nam mà ngày nay chỉ còn thấy bàng bạc trong sinh hoạt dân gian ở thôn quê. Chữ Hán sẽ rất có ích cho việc này. Mình mong các nhà giáo dục đưa chương trình chữ Hán vào trong chương trình học ở nhà trường các cấp, coi nó quan trọng như các sinh ngữ đang thịnh hành vậy. Hai câu sau đây dịch là, Nhẫn nhục thì trong nhà êm ấm Cần mẫn thì trên đời không có việc chi khó. Hai chữ 太平 /thái bình/ có nhiều chỗ thay bằng 太和 /thái hòa/, nghĩa không đổi. 百 Bách 忍 Nhẫn 堂 Đường 中 Trung 有 Hữu 太 Thái 平 Bình 一 Nhất 勤 Cần 天 Thiên 下 Hạ 無 Vô 難 Nan 事 ...

Nói về dục

Nói về lòng dục vô cùng của con người, hôm nay tra chữ 偷 /thâu/ thì đọc được câu này trong từ điển Chinese idioms explained in English của Babylon. 妻不如妾,妾不如偷,偷得著不如偷不著. Thê bất như thiếp, thiếp bất như thâu, thâu đắc trước bất như thâu bất trước. Từ điển này giải thích như sau, A concubine is better than a wife, a lover is better than a concubine, an unobtainable love is better than an obtainable. Mình dịch là, Vợ chẳng bằng vợ lẽ, vợ lẽ chẳng bằng bồ nhí, bồ nhí mà tán được chẳng bằng bồ nhí tán không được. Bàn về ái dục Đức Dalai Lama cũng có nói bản chất của nó là ham muốn một thứ gì đó, khi mà chưa đạt được thì đối tượng của ái dục kia rất là dễ thương, nhìn đâu cũng thấy đẹp, thấy thích. Nhưng mà khi thỏa mãn được dục rồi, hoặc là thời gian làm cho dục giảm bớt đi thì đối tượng dục mới bắt đầu hiện rõ chân tướng ra, cách nhìn của người ôm ái dục về cái kia cũng bắt đầu thay đổi, không còn thấy nó đẹp, nó hoàn mĩ như trước nữa. Cho nên bỏ thì giờ, tâm lực mà đeo đuổi cho thỏa thèm ...